Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) định nghĩa hoạt động thể lực là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng. Điều đó được coi là biện pháp hữu hiệu để nâng cao sức khỏe và phòng chổng bệnh tật đối với cá nhân và cộng đồng. Mặt khác, hoạt động thể lực còn là cấu phần quan trọng, không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam báo cáo về tỷ lệ không đáp ứng hoạt động thể lực theo mức khuyến nghị TCYTTG và một số yếu tố liên quan trên nhóm học sinh Trung học phổ thông (THPT).
Vì vậy, nghiên cứu này nhằm đạt được 2 mục tiêu: (1) mô tả thực trạng hoạt động thể lực và (2) xác định một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của học sinh tại 3 trường THPT Hà Nội năm 2017. Đối tượng và phưong pháp nghiên cứu Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng và thiết kế cắt ngang phân tích. Có 425 học sinh tham gia nghiên cứu, theo phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn, tại 3 trường THPT: Vân Nội (huyện Đông Anh), Ngô Gia Tự (quận Hà Đông), Hồng Thái (huyện Đan Phượng), ở mỗi khối, lựa chọn ngẫu nhiên toàn bộ học sinh trong 1 lớp đại diện tham gia. Thu thập số liệu bằng phát vấn bộ câu hỏi thiết kế sẵn Active-Q Physical Activity, đã chỉnh sửa phù hợp với vãn hóa Việt Nam, nhằm: thu thập thông tin cá nhân, tình trạng hoạt động thể lực và một số yếu tố liên quan của đối tượng.
Số liệu được phân tích bằng SPSS 22 và sử dụng kiểm định %2 cho mục tiêu nghiên cứu. Kết quả và phát hiện chính Nghiên cứu đà phát hiện ra một số kết quả như sau: học sinh dành phần lớn thời gian trong ngày cho các hoạt động học tập/làm việc, với trung bình 6,55 giờ. Và thời lượng ngủ là 7,26 giờ/ngày. Trong khi các hoạt động khác có thời gian sử dụng thấp như: di chuyển bằng phương tiện (0,53 giờ); giải trí (4,16 giờ) và chơi thể thao (0,03 giờ), xếp loại hoạt động thể lực theo phân nhóm MET thì hầu hết học sinh chỉ đạt mức hoạt động cường độ nhẹ (91,1%).
Còn tỷ lệ hoạt động thể lực tĩnh tại và cường độ vừa phải là không cao, lần lượt là 8,1%; 0,8%. Đánh giá theo khuyến nghị TCYTTG, có 99,2% học sinh không đạt mức hoạt động thể lực trong ngày (tối thiểu 60 phút/ngày cho hoạt động cường độ vừa phải/mạnh). Trong nghiên cứu, các yếu tố cá nhân như: giới tính, loại hình đào tạo, trường THPT. Và yếu tố thành tích học tập là có mối liên quan ý nghĩa thống kê với tình trạng hoạt động thể lực theo 2 cách xếp loại nêu trên (p < 0,05; kiểm định X2).
Ket luận và kiến nghị Nghiên cứu nhận thấy: thời lượng học sinh dành cho các hoạt động hàng ngày chưa phù hợp, tỷ lệ ít hoạt động thể lực còn cao. Nghiên cứu xin kiến nghị một số đề xuất như sau: học sinh nên chú động nâng cao hoạt động thể lực của bản thân với cường độ vừa phải, ít nhất 60 phút mỗi ngày. Nhà trường và gia đình cần quan tâm, tạo điều kiện cho học sinh có thời gian học tập cân đổi với các hoạt động thể lực khác. Khi xây dựng chương trình hoạt động thể lực cho học sinh, cần phù hợp giữa nam và nữ, giữa các trường dân lập và công lập để đạt lợi ích về sức khỏe, cần phát triển các nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này trong tương lai, cụ thể: xác định thêm các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến hoạt động thể lực và mở rộng cỡ mẫu nghiên cứu nhằm kết quả mang tính đại diện cho toàn bộ học sinh THPT tại Hà Nội.
ĐẶT VẤN ĐÈ Hoạt động thể lực trong trường học là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp GD&ĐT, góp phần thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước [1]. Để mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [2]. Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, thì cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trong đó yếu tố sức khỏe là quan trọng nhất. Trong những năm qua, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực thể dục thể thao và công tác thể chất, cho đối tượng học sinh tại các nhà trường.
Phần lớn nhà trường đã nhận được sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của Nhà nước, cũng như trang thiết bị cho quá trình đào tạo nhưng hoạt động thể lực của học sinh tại các trường THPT hiện nay còn nhiều hạn chế và yếu kém nhất định. Công tác giảng dạy thể dục-thể thao trong trường học vẫn còn mang nặng tính hình thức, thực trạng năng lực thể chất học sinh còn nhiều hạn chế. Chương trình môn học thể dục nội, ngoại khóa chưa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nên chưa nâng cao được sức khỏe toàn diện. Trên thực tế, qua báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam 2015, chỉ có 23,8% thanh thiếu niên độ tuổi 16-19 thường xuyên tập thể dục thể thao và có đến 47,6% tự đánh giá sức khỏe mình ở mức trung bình, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tự đánh giá tình trạng sức khỏe ở lứa tuổi này [4].
Thông tin từ hội thảo Tâm lý học đường lần thứ IV diễn ra tại Hà Nội, cho biết: có đến gần 20% đối tượng học sinh lớp 12 thường xuyên căng thẳng do học tập và làm việc mà không hoạt động thể lực, cũng như không có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý [10]. Trước tình hình đó, hiện nay chưa có nhiều đề tài trong nước báo cáo về tỷ lệ không đáp ứng hoạt động thể lực theo mức khuyến nghị TCYTTG và một số yếu tổ liên quan trên học sinh THPT. Mà việc nghiên cứu chủ đề này, sẽ là cơ sở khoa học giúp lãnh đạo nhà trường có thể đẩy mạnh phong trào tập luyện thể dục-thể thao. Góp phần nâng cao chât lượng công tác giáo dục thể chất nói chung và tăng cường thể lực cho học sinh 2 nói riêng, một cách có hiệu quả.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của học sinh tại một số trường Trung học phổ thông Hà Nội năm 2017” nhằm đạt được các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng hoạt động thể lực của học sinh tại 03 trường Trung học phổ thông Hà Nội năm 2017. Xác định một so yếu tố liên quan đến hoạt động the lực của học sinh tại 03 trường Trung học phổ thông Hà Nội năm 2017. TÔNG QUAN ĐÈ TÀI 1.
Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu Hoạt động thế lực là bất kỳ sự chuyển động của cơ thể được thực hiện bởi hệ cơ xương, có tiêu hao năng lượng [34]. Học sinh THPT\Ò. đối tượng thanh thiếu niên, có độ tuổi từ 15-17, đang theo học trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Có cấp độ cao hơn tiểu học và trung học cơ sở nhưng thấp hơn trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học.
Thời gian học kéo dài 3 năm (lớp 10 - lớp 12). MET (Metabolic Equivalent of Task) là đơn vị chuyển hóa năng lượng tương đương hoặc lượng oxy tiêu thụ lúc nghỉ được sử dụng. Đơn vị của MET là: Kcal/kg/giờ và 1 MET = 3,5ml o2/kg/phút. ở mỗi hoạt động thể lực khác nhau sẽ có từng giá trị MET khác nhau tương ứng.
Vì vậy, dựa vào đó hoạt động thể lực chia làm 4 mức độ: (1) hoạt động thể lực tĩnh tại (< 1,5 MET); (2) hoạt động thể lực cường độ nhẹ (1,5 đến < 3 MET); (3) hoạt động thể lực cường độ vừa phải (3-6 MET); (4) hoạt động thể lực cường độ mạnh (> 6 MET) [50,51]. Hoạt động thể lực Theo TCYTTG, hoạt động thể lực bao gồm cả những hoạt động được thực hiện trong khi làm việc, vui chơi, thực hiện các công việc gia đình, đi du lịch và tham gia vào các mục đích giải trí [35]. Điều này đồng nghĩa với mọi loại hoạt động cơ bắp như đi bộ, làm việc nhà và làm vườn, các hoạt động về thể chất khi lao động, hoạt động ngoài trời, tập thể dục và tập luyện thể thao [29]. Thuật ngữ “hoạt động thế lực” không nên nhầm lẫn với “tập thể dục”.
Bởi vì, tập thê dục chỉ là một cấu phần nhỏ trong hoạt động thể lực. Đó là các hoạt động thể lực được lên kế hoạch với mục đích nhất định như để trở nên khoẻ mạnh hay để nâng cao sức khoẻ tương đương [34]. Hoạt động thể lực được chia làm 3 mức độ nặng, vừa và nhẹ [9]. Cụ thể như sau: Hoạt động cường độ nặng: là hoạt động thể lực ở mức gắng sức (tiêu tốn khoảng > 7 Kcal/phút), làm tăng nhịp thở và nhịp tim so với bình thường rất nhiều.
4 Ví dụ: gánh vác nặng, thợ nề/hồ, đào đất, xúc đất, cưa xẻ, chạy dài, thể thao gắng sức, đạp xe từ > 16 km/giờ. Hoạt động cường độ vừa phải: là hoạt động làm tăng nhịp thở và nhịp tim so với bình thường một chút (tiêu tốn khoảng 3,5-7 Kcal/phút). Ví dụ: lau chùi nhà cửa, làm vườn, quét sơn/vôi ve, bơi lội, leo cầu thang, cầu lông, bóng chuyền nghiệp dư, đạp xe từ 8-15 km/giờ. Hoạt động cường độ nhẹ: là nghỉ ngơi hoặc không hoạt động (tiêu tốn khoảng 3,5 Kcal/phút).
Ví dụ: xem tivi, đọc sách báo, ngồi/nằm nghỉ. Theo TCYTTG khuyến nghị, thời gian tham gia hoạt động thể lực có lợi cho sức khoẻ ở mỗi độ tuổi sẽ có sự đáp ứng khác nhau [34]: Trẻ em và thanh thiếu niên (5-17 tuổi): nên thực hiện ít nhất 60 phút/ngày hoạt động thể lực cường độ vừa phải cho tới cường độ nặng; hoạt động thể lực > 60 phút/ngày sẽ mang lại nhiều lợi ích sức khoẻ hơn. Người trưởng thành (18-64 tuồi): nên thực hiện ít nhất 150 phút/tuần hoạt động thể lực cường độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút/tuần cho hoạt động thể lực cường độ mạnh hoặc kết hợp cả hai hoạt động nêu trên với ít nhất 600 phút MET; người lớn nên tăng thời lượng hoạt động thể lực cường độ vừa phải > 300 phút/tuần hoặc tương đương để có nhiều lợi ích hơn về sức khoẻ. Người cao tuổi (> 65 tuổi): tương tự với nhóm người trưởng thành.