Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng lượng glucose máu do khiếm khuyết tiết insuline, khiếm khuyết hoạt động insuline, hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [36].2 Chẩn đoán xác định đái tháo đường Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường của WHO và IDF năm 2012[26], dựa vào một trong các tiêu chí: - Mức glucose huyết tương lúc đói ≥7,0mmol/l (≥126mg/dl). - Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.
Hoặc: - Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl). Khái niệm về HbA1c: Hemoglobin (Hb) là một trong những thành phần cấu tạo nên tế bào hồng cầu của máu, có vai trò vận chuyển oxy trong máu. Bình thường luôn luôn có sự gắn kết của đường trong máu với Hb của hồng cầu. HbA1c chiếm phần lớn ở người lớn, nó đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu.
Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong ngày, và tồn tại suốt trong đời sống hồng cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần lễ. Do đó xét nghiệm HbA1c cho biết tình trạng kiểm soát glucose máu trong 12 tuần gần nhất. Người bệnh chỉ cần thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm glucose máu, nhưng HbA1c chỉ giảm khi họ tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 12 tuần[14]. HbA1c thường diễn đạt bằng tỷ lệ %.
Nồng độ HbA1c 5 khoảng 5-7% trên NB đái tháo đường cho biết NB đã được ổn định glucose máu tốt trong 12 tuần trước.5% glucose máu người bệnh không được kiểm soát tốt [20] 1.3 Phân loại đái tháo đường Theo khuyến cáo của WHO năm 2003[35] Bệnh ĐTĐ type 1 chiếm 5-10% của tất cả các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ. Nhiễm ceton acid là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người bị bệnh ĐTĐ loại này. NB nhiễm ceton acid thường phải nằm viện điều trị, và trong hầu hết các trường hợp nguyên nhân là do không tuân thủ điều trị insulin. Bệnh ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% của tất cả các trường hợp chẩn đoán của bệnh.
Nó thường gắn liền với tình trạng thừa cân và kháng insulin. Đối với NB ĐTĐ type 2, kiểm soát trọng lượng, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, là nền tảng của việc điều trị. Tuy nhiên, chức năng của tế bào beta tuyến tụy giảm theo thời gian, rất nhiều người bệnh cuối cùng phải điều trị bằng thuốc uống hoặc insulin ngoại sinh. ĐTĐ thời kỳ thai nghén phát triển chiếm 2-5% của tất cả các lần mang thai, nhưng biến mất sau khi sinh.
Yếu tố nguy cơ bao gồm chủng tộc / dân tộc và tiền sử gia đình của bệnh ĐTĐ và béo phì. Một số dạng khác là kết quả của hội chứng di truyền cụ thể, phẫu thuật, thuốc, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và bệnh tật khác, và chiếm 1-2% của tất cả các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ. Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu vào đối tượng người bệnh mắc ĐTĐ type 2.4 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Theo khuyến cáo của WHO năm 2013 trên thế giới có 382 triệu người mắc ĐTĐ trong đó 46% không được chẩn đoán, số người mắc dự đoán tăng lên 592 triệu ca vào năm 2035 tương đương số người mắc tăng lên 55%.
Cũng theo thống kê này cứ mỗi 6 giây lại có một người tử vong do ĐTĐ , trong năm 2013 đã có 5,1 triệu người tử vong vì bệnh ĐTĐ [27]. 6 Theo thống kê của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2015[24] : trên thế giới hiện nay có sấp xỉ 415 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc ĐTĐ trên toàn thế giới, trong đó có 193 triệu người chưa được chẩn đoán. Hơn 318 triệu người trưởng thành ước tính có dung nạp glucose, đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao phát triển dịch bệnh. Theo WHO năm 2013[27] số người tử vong do HIV / AIDS, Lao và Sốt rét lần lượt là: 1,5 triệu người, 1,5 triệu người và 0,6 triệu người, trong khi đó cuối năm 2015, bệnh ĐTĐ đã gây ra trên 5,0 triệu ca tử vong và có chi phí giữa 673 tỷ USD và USD 1,197 tỷ USD chi tiêu y tế.
Nếu mức tăng này không dừng lại dự đoán tới năm 2040 có gần 642 triệu người sống chung với bệnh tật. Đáng chú ý, chi phí y tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh ĐTĐ trong đó chiếm đa số là ảnh hưởng tới điều trị các biến chứng[24]. Cũng theo thống kê của IDF [24] về số người mắc ĐTĐ năm 2015 và dự đoán số người mắc đái tháo đường đến năm 2040 của các châu lục và một số khu vực trên thế giới như sau: Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc đái tháo đường năm 2015 và dự đoán đến năm 2040 tại các khu vực trên thế giới. Năm 2015 Năm 2040 Châu lục/Khu vực (triệu người) (triệu người) Bắc Mỹ và Vùng biển Caribe 44.3 60,5 Nam và Trung Mỹ 29,6 48,8 Châu Âu 59,8 71,1 Trung Đông và Bắc Phi 35,4 72,1 Trung và Nam Phi 14,2 34,2 Tây Thái Bình Dương 153,2 214,8 Đông Nam Á 78,3 140,2 Tổng 414,8 641,7 Về mức độ phổ biến của bệnh ĐTĐ : năm 2015 cứ 11 người trưởng thành thì có 1 người mắc ĐTĐ và tới năm 2040 tỉ lệ này giảm xuống trong 10 người có một người mắc ĐTĐ [24].
7 Bệnh ĐTĐ phân chia theo giới tính : năm 2015 có 215,2 triệu đàn ông mắc ĐTĐ và tăng lên 328,4 triệu năm 2040. Trong khi đó con số này ở nữ năm 2015 là 199,5 triệu người tới năm 2040 là 313,3 triệu người [24]. Bệnh ĐTĐ phân bố tại môi trường đô thị và nông thôn : tại vùng đô thị năm 2015 có 269,7 triệu người mắc tới 2040 là 477,9 triệu người. Vùng nông thôn năm 2015 có 145,1 triệu người mắc tới 2040 có 163,9 triệu người mắc [24].
Chi phí tài chính cho ĐTĐ: Ngoài việc gây ra gánh nặng tài chính lớn cho các cá nhân và gia đình của họ do sự chi phí của insulin và thuốc thiết yếu khác, bệnh ĐTĐ cũng có một tác động đáng kể tới kinh tế đất nước và hệ thống y tế tại các quốc gia. Điều này là do việc sử dụng gia tăng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm năng suất lao động và thời hạn dài hỗ trợ cần thiết để vượt qua bệnh ĐTĐ và các biến chứng ảnh hưởng, chẳng hạn như suy thận, mù hoặc các vấn đề tim mạch. Đa số các nước dành từ 5% đến 20% tổng chi tiêu y tế của họ cho bệnh ĐTĐ. Với chi phí ngày một cao bệnh này là một thách thức đáng kể cho hệ thống y tế và cản trở phát triển kinh tế bền vững của quốc gia [23].
Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ gia tăng đái tháo đường cao nhất thế giới [1]. Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi người và mọi lứa tuổi trong xã hội. Trong khi đó Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia thu nhập trung bình và thấp phải chịu nhiều tác động lớn của căn bệnh ĐTĐ, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp. Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này.
Theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương: số NB mắc ĐTĐ ở nước ta tăng 211% từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng NB đái tháo đường cao nhất trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới. Nghiên cứu tại các địa phương cho thấy, toàn quốc có khoảng 5 triệu NB đái tháo đường, điều đáng nói là cứ 10 ca đái 8 tháo đường thì có 6 ca được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong. Ở Việt Nam, mỗi ngày có khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân ảnh hưởng đến bệnh đái tháo đường, tương đương với 54.943 trường hợp tử vong của người trưởng thành mỗi năm [1]. Bệnh đái tháo đường không được điều trị hoặc điều trị kém làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng tại hầu hết các cơ quan như tim, gan, não, mắt, thận các bệnh lý tại vi mạch máu cũng như ở các mạch máu lớn… và có thể dẫn tới tử vong sớm.
Người bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong sớm cao hơn gần gấp 2 lần so với những người không bị bệnh đái tháo đường [17]. Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu [35]. Vì vậy vấn đề tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ cần được quan tâm hơn bao giờ hết. Điều trị đái tháo đường type 2 * Mục đích: [3] – Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, nhằm giảm các biến chứng có ảnh hưởng, giảm tỷ lệ tử vong do ĐTĐ.
– Giảm cân nặng (với người thừa cân, béo phì) hoặc duy trì cân nặng hợp lý. * Nguyên tắc: – Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập. Đây là bộ ba phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường. – Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì số đo huyết áp hợp lý, phòng, chống các rối loạn đông máu.
– Khi cần phải dùng insulin (như trong các đợt cấp của bệnh mạn tính, bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật). 9 * Mục tiêu điều trị[3] Bảng1.