ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh[2]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu (trong độ tuổi 20-79) bị đái tháo đường, tương đương cứ 11 người có 1 người bị đái tháo đường (ĐTĐ), dự kiến đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu[20]. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), gần 80% các ca tử vong do bệnh đái tháo đường xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình[26].
Tỷ lệ biến chứng và tử vong cao ở bệnh nhân đái tháo đường có một nguyên nhân quan trọng là việc không tuân thủ điều trị. Theo WHO và Luật về người tàn tập của Mỹ(ADA): Tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường là sự kết hợp của 6 biện pháp: chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, thay đổi thói quen không hút thuốc và hạn chế rượu bia, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ[25], [15]. Cũng theo WHO, Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế cũng như các kết quả nghiên cứu cho thấy không tuân thủ điều trị có thể gây ra các hậu quả như: không kiểm soát được đường huyết, không ngăn ngừa được các biến chứng cấp tính (hạ Glucose máu, nhiễm toan, hôn mê, các bệnh nhiễm trùng cấp tính…), không ngăn được các biến chứng mãn tính (biến chứng mắt, thận, bàn chân, thần kinh, chức năng sinh lý…)[2],[27]. Việt Nam không phải nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất Thế giới nhưng lại là nước có tốc độ phát triển nhanh nhất Thế giới về căn bệnh này[1].
Tại Việt Nam số người mắc đái tháo đường chiếm khoảng 5,6% dân số (với hơn 5 triệu người mắc) xếp hàng đầu thế giới. Tỷ lệ này tăng gấp đôi so với đầu những năm 2000. Bên cạnh đó, tỷ lệ người bị bệnh nhưng chưa được chẩn đoán còn rất cao, chiếm 70%[21]. Trong số đó, có đến hơn 50% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường tại nước ta không nhận thức được tình trạng bệnh của mình.
Trong số 50% số người 2 được chẩn đoán và điều trị thì có đến 50% số người có biến chứng về đái tháo đường đó là biến chứng về tim mạch, tổn thương mắt, bàn chân…. Một trong những nguyên nhân của tỷ lệ tử vong cao là do người bệnh không tuân thủ chế độ điều trị gây ra một loạt các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và mạch vành, mù lòa… do đái tháo đường gây ra thì người bệnh cần tuân thủ tốt chế độ điều trị (dinh dưỡng, hoạt động thể lực, dùng thuốc, kiểm soát đường huyết, khám sức khỏe định kỳ) theo hướng dẫn của thầy thuốc. Tuân thủ điều trị giúp người bệnh kiểm soát tốt đường máu, có thể phòng được các biến chứng giúp người bệnh vẫn làm việc bình thường, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội và giảm các hệ quả kèm theo về tổn thất kinh tế, stress, giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật và tử vong. Truyền thông, tư vấn, cung cấp những kiến thức về tuân thủ điều trị cho người bệnh sẽ có hiệu quả thiết thực trong việc hạn chế biến chứng nặng nề mà ĐTĐ gây ra, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh[19].
Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình mới được sát nhập từ Bệnh viện đa khoa huyện Hoa Lư và Trung tâm y tế huyện Hoa Lư từ ngày 15/8/2017 với quy mô 60 giường bệnh và 10 giường bệnh tại phòng khám Đa khoa Cầu Yên[13]. Buồng khám nội tiết trực thuộc khoa Khám bệnh của đơn vị hiện đang quản lý điều trị cho 260 bệnh nhân đái tháo đường, trong đó có 240 người bệnh ĐTĐ type 2. Đây là số lượng đái tháo đường tương đối lớn và có xu hướng ngày càng tăng.Trong khi đó, nhân lực y tế chuyên khoa nội tiết tại Trung tâm còn thiếu, việc giám sát hỗ trợ tuân thủ điều trị cho người bệnh đái tháo đường là một vấn đề khó khăn. Qua khảo sát thực tế tại khoa Nội tiết của Trung tâm, đã có nhiều bệnh nhân đái tháo đường vào điều trị các bệnh khác nhau nhưng đã không kiểm soát được đường huyết thường xuyên hoặc kiểm soát không đúng, bệnh nhân không hiểu về bệnh đái tháo đường hoặc hiểu không đúng về bệnh, tuân thủ điều trị còn rất hạn chế ảnh hưởng rất xấu đến kết quả điều trị bệnh.
Một số bệnh nhân từ điều trị ngoại trú đã phải nhập viện hoặc phải chuyển lên tuyến trên điều trị do biến chứng nặng hơn mà nguyên nhân cũng do không tuân thủ điều trị. 3 Câu hỏi thực tế đặt ra cho cán bộ làm công tác quản lý, điều trị bệnh đái tháo đường của Trung tâm là: thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ type 2 đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoa Lư như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị bệnh nhân? Để giúp cung cấp các bằng chứng khoa học cho Trung tâm Y tế Hoa Lư trong công tác theo dõi, quản lý và tư vấn bệnh nhân đái tháo đường trong quá trình điều trị chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019 và một số yếu tố liên quan”. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019.
Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm 2019.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh Đái tháo đường 1. Khái niệm về bệnh đái tháo đường: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh[2].
Chẩn đoán bệnh đái tháo đường: Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán 6 a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L).
Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ. Phân loại bệnh đái tháo đường a) Đái tháo đường tip 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ tip 1, típ 2 trước đó). d) Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô.
Chi tiết phân loại ĐTĐ trong Phụ lục 01 được ban hành kèm theo Quyết định số 3789/QĐ-BYT ngày 21/8/2017 của Bộ Y tế. Thực trạng bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam Trên thế giới, ĐTĐ đang trở thành một bệnh chuyển hóa có tốc độ phát triển rất nhanh hiện đã trở thành một vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng.Là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất (ung thư, tim mạch, đái tháo đường); đứng thứ 7 về nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh [21]. Năm 2016, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở một số nước thuộc Châu Âu: Tây Ban Nha là 1%, Pháp 1,4%, Anh 1,2%. Tại Châu Mỹ: Argentina 8,2%, Mỹ 6,6%.
Tại Châu Phi: Tusinia 3,84% ở thành phố và 1,3% ở nông thôn, Mali 0,9% [27]. Theo thống kế của IDF năm 2017, tỷ lệ mắc ĐTĐ của một số nước châu Á như sau: Nhật Bản 7,7%, Hàn Quốc 8,8%, Malaysia 18,9%, Singapore 13,7%, Thái Lan 8,3%, Philipines 6,2% [21]. 7 Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới số lượng người bệnh đái tháo đường đã tăng từ 108 triệu vào năm 1980 lên 422 triệu vào năm 2014.Đái tháo đường tăng nhanh ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Số hiện mắc ĐTĐ trong người trưởng thành trên 18 tuổi tăng từ 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014[20].Bệnh tiểu đường là nguyên nhân chính gây mù, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới.