Luận văn đánh giá thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống bệnh tăng huyết áp tại thành phố tuyên quang tỉnh tuyên quang năm 2016

Luận văn đánh giá thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống bệnh tăng huyết áp tại Tuyên Quang năm 2016, phân tích hiệu quả và đề xuất giải pháp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

124
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý mãn tính, ngày càng trở thành mối quan tâm lớn trong y học. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh THA đang gia tăng nhanh chóng, với ước tính khoảng 29,2% vào năm 2025. THA không chỉ là nguyên nhân gây tử vong mà còn để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng như suy tim, đột quỵ và bệnh thận. Tại Việt Nam, tỷ lệ THA đã tăng từ 1,9% năm 1982 lên 27,4% năm 2008. Chương trình phòng chống THA đã được triển khai từ năm 2010, với mục tiêu nâng cao nhận thức và năng lực của nhân viên y tế trong việc phát hiện và điều trị bệnh. Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình tại Tuyên Quang vẫn gặp nhiều khó khăn.

1.1. Định nghĩa và triệu chứng của tăng huyết áp

Tăng huyết áp được định nghĩa là tình trạng huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥90 mmHg. Triệu chứng của bệnh thường không rõ ràng, nhưng có thể bao gồm đau đầu, chóng mặt, và rối loạn thần kinh. Việc đo huyết áp định kỳ là rất quan trọng để phát hiện sớm bệnh. Theo nghiên cứu, nhiều người dân chưa có kiến thức đầy đủ về triệu chứng và cách phòng ngừa THA.

1.2. Các yếu tố nguy cơ và biến chứng của tăng huyết áp

Các yếu tố nguy cơ của THA bao gồm rối loạn lipid máu, hút thuốc, ăn mặn, và thừa cân. Biến chứng của THA có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng cho tim, não, thận và mắt. Việc nhận diện và quản lý các yếu tố nguy cơ là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng. Nghiên cứu cho thấy, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về các yếu tố nguy cơ có thể giúp cải thiện tình hình sức khỏe.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng và định tính, với sự tham gia của 853 người dân và 19 cuộc phỏng vấn sâu. Thời gian nghiên cứu diễn ra trong năm 2016 tại Thành phố Tuyên Quang. Phương pháp chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên, đảm bảo tính đại diện cho cộng đồng. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp. Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê, nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình phòng chống THA.

2.1. Đối tượng và thiết kế nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm người dân từ 18 tuổi trở lên, không có tiền sử bệnh lý nghiêm trọng. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang cho phép thu thập thông tin tại một thời điểm, giúp đánh giá nhanh chóng tình hình thực hiện chương trình. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

2.2. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Số liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp. Các biến số nghiên cứu bao gồm kiến thức về THA, thực hành điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình. Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê, giúp xác định mối quan hệ giữa các biến số và đánh giá hiệu quả của chương trình phòng chống THA.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy 36,6% người dân có kiến thức đạt về bệnh THA. Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng theo phác đồ của Bộ Y tế đạt 88,7%, trong khi tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu là 62,9%. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình bao gồm công tác quản lý chưa phối hợp tốt, nguồn kinh phí hạn chế và trình độ nhân lực còn thấp. Những kết quả này cho thấy cần có sự cải thiện trong công tác quản lý và đào tạo nhân viên y tế.

3.1. Kiến thức và thực hành của người dân

Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của người dân về THA còn hạn chế, với nhiều người chưa nhận thức được các triệu chứng và cách phòng ngừa bệnh. Việc cung cấp thông tin và giáo dục sức khỏe là rất cần thiết để nâng cao nhận thức của cộng đồng. 100% người dân mong muốn nhận thông tin tư vấn từ cán bộ y tế, cho thấy nhu cầu cao về giáo dục sức khỏe.

3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị

Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị theo phác đồ đạt 88,7%, cho thấy sự tuân thủ điều trị tương đối cao. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu chỉ đạt 62,9%, cho thấy cần có sự cải thiện trong việc theo dõi và quản lý bệnh nhân. Các yếu tố như sự phối hợp giữa các cơ sở y tế và nguồn kinh phí khám chữa bệnh cũng cần được xem xét để nâng cao hiệu quả điều trị.

IV. Bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình phòng chống THA tại Tuyên Quang đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình cần được phân tích kỹ lưỡng để có những giải pháp phù hợp. Việc nâng cao kiến thức và thực hành của người dân là rất quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng. Đề xuất các khuyến nghị cho các cơ quan chức năng và cộng đồng nhằm cải thiện hiệu quả chương trình.

4.1. Đề xuất giải pháp cải thiện chương trình

Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức của người dân về THA. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai chương trình, đảm bảo nguồn kinh phí và nhân lực đầy đủ. Đào tạo cán bộ y tế cần được thực hiện thường xuyên để nâng cao năng lực chuyên môn, từ đó cải thiện chất lượng điều trị.

4.2. Tầm quan trọng của việc theo dõi và đánh giá

Việc theo dõi và đánh giá định kỳ chương trình phòng chống THA là rất cần thiết để phát hiện kịp thời những vấn đề phát sinh. Cần có các chỉ số đánh giá cụ thể để đo lường hiệu quả của chương trình, từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Sự tham gia của cộng đồng trong việc theo dõi sức khỏe cũng cần được khuyến khích để nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính, với tần suất mắc bệnh ngày càng tăng và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nền y học Thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2000, số ngƣời mắc bệnh THA là 26,4% và dự tính sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025[1]. Chính vì vậy, THA đang trở thành một vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng. THA là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nƣớc đang phát triển.

Năm 2008, trên Thế giới có khoảng 16,5 triệu ngƣời chết vì THA[4]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp đang tăng nhanh theo thời gian: 1,9% năm 1982; 11,79% năm 1992; 16,3% năm 2002 và 27,4% năm 2008 [16].TS Nguyễn Lân Việt - Giám đốc Ban quản lý dự án phòng chống tăng huyết áp, điều tra gần nhất tại Việt Nam cho thấy có 25,1% ngƣời trƣởng thành (25-64 tuổi) mắc bệnh tăng huyết áp. Cũng theo GS Việt, những biến chứng nhiều nhất của tăng huyết áp là suy tim, biến chứng mạch máu, tổn thƣơng đáy mắt, có protein trong nƣớc tiểu và suy thận. Tuy nhiên trong giai đoạn 2012-2015, mới chỉ có 50% bệnh nhân tăng huyết áp đƣợc phát hiện điều trị đúng theo phác đồ của Bộ Y tế [30].

Ngày 20 tháng 12 năm 2010, Thủ tƣớng Chính phủ Nguyễn Tấn ũng đã ý quyết định số 2331/2010/QĐ-TTg về việc “Ban hành danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011”. Mục tiêu chung của Dự án phòng chống bệnh THA là nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ, Tăng cƣờng năng lực của nhân viên y tế trong công tác dự phòng, phát hiện sớm và điều trị đúng bệnh THA theo phác đồ của Bộ Y tế qui định [22]. Đến nay toàn quốc, chƣơng trình hám sàng lọc và quản lý bệnh nhân THA đã duy trì mô hình quản lý bệnh nhân THA tại 190 xã/phƣờng điểm đƣợc triển khai từ 2009 và 2010. Hiện tại tổng số bệnh nhân THA đang đƣợc quản lý là 41.984 đạt 58,3% (chỉ tiêu 50%) trong tổng số 71.972 ngƣời đƣợc sàng lọc từ 2010.

Số bệnh nhân quản lý đƣợc điều trị đạt huyết áp mục tiêu 17.984 ngƣời đƣợc quản lý THA, đạt 41,9% [34]. 2 Tại tỉnh Tuyên Quang, trong những năm qua, việc quản lý điều trị bệnh nhân tăng huyết áp đã đƣợc triển khai tại Bệnh viện Đa hoa tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện. Tuy nhiên việc triển hai điều trị và kiểm soát bệnh nhân tăng huyết áp tại các xã phƣờng còn gặp nhiều hó hăn [19]. Trên địa bàn thành phố có trên 139.119 ngƣời dân sinh sống, đƣợc phân bổ ở 13 xã phƣờng với 73 cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Về công tác phòng chống THA đƣợc triển khai tại các Trạm Y tế (TYT) của xã phƣờng từ năm 2012 đến nay theo chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ hám sàng lọc bệnh nhân, tuyên truyền cho nhân dân về bệnh và cách phát hiện đề phòng THA và các biến chứng, theo dõi quản lý ngƣời bệnh THA. Bên cạnh đó, chƣa có một nghiên cứu nào đánh giá về thực hiện triển hai chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang, vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tăng huyết áp tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016”. Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở để thực hiện những cải cách trong việc quản lý bệnh nhân THA tại các TYT trong thành phố Tuyên Quang, cung cấp cơ sở dữ liệu và những thông tin cần thiết cho các nghiên cứu khác sau này. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Đánh giá kết quả thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Định nghĩaTăng huyết áp Là khi huyết áp của bạn thƣờng xuyên cao hơn mức bình thƣờng (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trƣơng).

Theo Tổ chức Y tế Thế giới. Một ngƣời trƣởng thành ( ≥ 18 tuổi) gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng ≥ 90 mmHg. Tăng huyết áp có thể là tăng cả huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó [19]. Các chỉ số huyết áp 120-139/80-90 mmHg theo JNC VII hông coi là bình thƣờng nữa mà gọi là “Tiền tăng huyết áp” nghĩa là sau này có nguy cơ bị tăng huyết áp thật sự cao gấp 2 lần so với ngƣời có huyết áp bình thƣờng là < 120/80mmHg [43].

Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp 1. Triệu chứng tăng huyết áp Đa số bệnh nhân tăng huyết áp hông có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh thì có thể có các triệu chứng sau: - Đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dƣơng - Ù tai, hoa mắt, chóng mặt, đi lại loạng choạng không vững - Hay quên, trí nhớ giảm, tập trung chú ý giảm - Rối loạn vận mạch: tê chân tay, mất cảm giác, run đầu chi - Chảy máu cam - Rối loạn thần kinh thực vật: hay có cơn bốc hỏa, đỏ mặt, nóng bừng ngƣời Các triệu chứng trên là các triệu chứng hông đặc hiệu của ngƣời bệnh THA, với những triệu chứng đó cũng là triệu chứng của nhiều bệnh khác. - Đo huyết áp: Là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định tăng huyết áp [24]. Chẩn đoán tăng huyết áp 1.

Chẩn đoán xác định tăng huyết áp Dựa vào trị số huyết áp đo đƣợc sau hi đo HA đúng quy trình (Phụ lục 6) Ngƣỡng chẩn đoán THA thay đổi theo từng cách đo huyết áp. Các ngƣỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo [14] Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Nội dung (HATT) trƣơng (HATTr) Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 mmHg ≥ 90 mmHg Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg 1. Chẩn đoán phân độ THA Có nhiều cách phân độ tăng huyết áp, dựa vào phúc trình số 7 của Ủy ban liên hợp quốc gia Hoa Kỳ nhằm phát hiện, lƣợng giá, phòng ngừa và điều trị THA ( JNC VII), phân độ THA chỉ c n 2 độ và giai đoạn tiền THA (Bảng1. Bộ Y tế cũng đƣa ra cách phân độ THA dựa vào trị số HA do cán bộ y tế đo đƣợc (Bảng1.

Phân độ THA ở ngƣời ≥ 18 tuổi theo JNC VII [45]. Phân độ THA HATT(mmHg) HATr(mmHg) Huyết áp bình thƣờng < 120 < 80 Tiền THA 120 - 139 80 – 89 THA độ I 140 - 159 90 – 99 THA độ II ≥ 160 ≥ 100 6 Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp ở ngƣời trƣởng thành ≥ 18 tuổi[3] Phân độ HA HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ƣu < 120 < 80 HA bình thƣờng 120 - 129 80 - 84 Tiền THA 130 – 139 85-89 THA độ I ( nhẹ) 140 – 159 90 – 99 THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 100 – 109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90 Phân độ THA dựa vào chỉ số HATT và HATTr hoặc chỉ một trong hai dạng đó. Khi HATT và HATTr hông cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng đƣợc đánh giá theo mức biến.

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp [34],[36]. - Rối loạn lipid máu: nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần làm hẹp l ng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan hác trong cơ thể. Động mạch bị xơ vữa sẽ ém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây tăng huyết áp. - Hút thuốc lá/lào: chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp.

- Ăn mặn: lƣợng muối ăn hàng ngày quá cao cũng là nguyên nhân gây THA. - Tiền sử gia đình có người bị THA: nhiều nghiên cứu cho thấy THA có thể có yếu tố di truyền. - Thừa cân/ béo phì; béo bụng. - Tuổi cao (nam > 55 tuổi, nữ > 65 tuổi) tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế gây nên THA.

- Uống nhiều rượu/bia: có mối liên quan với tăng huyết áp. 7 - Stress và căng thẳng tâm lý: căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim, dƣới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, Noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp. - Ít hoạt động thể lực: lối sống tĩnh tại cũng đƣợc coi là nguy cơ của THA. Biến chứng của tăng huyết áp Tăng huyết áp gây nên tổn thƣơng ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp là tổn thƣơng ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn.

Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi vì có thể gây chết ngƣời, mà c n để lại những di chứng nặng nề (liệt do TBMMN, suy tim, suy thận.) ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của BN và là gánh nặng của gia đình và xã hội [21]. Các biến chứng thƣờng gặp: - Đột quỵ, thiếu máu thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh - Phì đại thất trái (trên điện tâm đồ hay siêu âm tim), suy tim - Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi - Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị [3],[5]. Điều trị tăng huyết áp Điều trị Tăng huyết áp trong nghiên cứu này của chúng tôi theo hƣớng dẫn của Bộ Y tế năm 2010 theo Quyết định số 3192/ QĐ - BYT về việc ban hành chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp [3]. Phác đồ điều trị tại cơ sở chi tiết trong phụ lục 7 và phụ lục 8 [3].

Mục tiêu điều trị tăng huyết áp [3], [39] - Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị THA là nhằm giảm tối đa và lâu dài nguy cơ bệnh tim mạch. - Đối với hầu hết các bệnh nhân, HA mục tiêu phải ở mức < 140/90 mmHg, thậm trí thấp hơn nếu bệnh nhân có thể dung nạp đƣợc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá chương trình phòng chống tăng huyết áp tại Tuyên Quang năm 2016 là một tài liệu quan trọng phân tích hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh tăng huyết áp tại địa phương. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng bệnh, các chiến lược can thiệp, và kết quả đạt được, giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc quản lý sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, nó nhấn mạnh vai trò của giáo dục sức khỏe và sự tham gia của cộng đồng trong việc giảm thiểu nguy cơ bệnh tật.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thực trạng tự kỳ thị và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh Hà Nội năm 2017, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về thách thức tâm lý và xã hội trong điều trị bệnh mãn tính. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về các bệnh truyền nhiễm và cách phòng ngừa. Cuối cùng, Luận văn đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ Đáy đoạn chảy qua địa phận thành phố Hà Nội năm 2016-2017 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe cộng đồng.