ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính, với tần suất mắc bệnh ngày càng tăng và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nền y học Thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2000, số ngƣời mắc bệnh THA là 26,4% và dự tính sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025[1]. Chính vì vậy, THA đang trở thành một vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng của căn bệnh này trong cộng đồng. THA là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nƣớc đang phát triển.
Năm 2008, trên Thế giới có khoảng 16,5 triệu ngƣời chết vì THA[4]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp đang tăng nhanh theo thời gian: 1,9% năm 1982; 11,79% năm 1992; 16,3% năm 2002 và 27,4% năm 2008 [16].TS Nguyễn Lân Việt - Giám đốc Ban quản lý dự án phòng chống tăng huyết áp, điều tra gần nhất tại Việt Nam cho thấy có 25,1% ngƣời trƣởng thành (25-64 tuổi) mắc bệnh tăng huyết áp. Cũng theo GS Việt, những biến chứng nhiều nhất của tăng huyết áp là suy tim, biến chứng mạch máu, tổn thƣơng đáy mắt, có protein trong nƣớc tiểu và suy thận. Tuy nhiên trong giai đoạn 2012-2015, mới chỉ có 50% bệnh nhân tăng huyết áp đƣợc phát hiện điều trị đúng theo phác đồ của Bộ Y tế [30].
Ngày 20 tháng 12 năm 2010, Thủ tƣớng Chính phủ Nguyễn Tấn ũng đã ý quyết định số 2331/2010/QĐ-TTg về việc “Ban hành danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011”. Mục tiêu chung của Dự án phòng chống bệnh THA là nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ, Tăng cƣờng năng lực của nhân viên y tế trong công tác dự phòng, phát hiện sớm và điều trị đúng bệnh THA theo phác đồ của Bộ Y tế qui định [22]. Đến nay toàn quốc, chƣơng trình hám sàng lọc và quản lý bệnh nhân THA đã duy trì mô hình quản lý bệnh nhân THA tại 190 xã/phƣờng điểm đƣợc triển khai từ 2009 và 2010. Hiện tại tổng số bệnh nhân THA đang đƣợc quản lý là 41.984 đạt 58,3% (chỉ tiêu 50%) trong tổng số 71.972 ngƣời đƣợc sàng lọc từ 2010.
Số bệnh nhân quản lý đƣợc điều trị đạt huyết áp mục tiêu 17.984 ngƣời đƣợc quản lý THA, đạt 41,9% [34]. 2 Tại tỉnh Tuyên Quang, trong những năm qua, việc quản lý điều trị bệnh nhân tăng huyết áp đã đƣợc triển khai tại Bệnh viện Đa hoa tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện. Tuy nhiên việc triển hai điều trị và kiểm soát bệnh nhân tăng huyết áp tại các xã phƣờng còn gặp nhiều hó hăn [19]. Trên địa bàn thành phố có trên 139.119 ngƣời dân sinh sống, đƣợc phân bổ ở 13 xã phƣờng với 73 cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Về công tác phòng chống THA đƣợc triển khai tại các Trạm Y tế (TYT) của xã phƣờng từ năm 2012 đến nay theo chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ hám sàng lọc bệnh nhân, tuyên truyền cho nhân dân về bệnh và cách phát hiện đề phòng THA và các biến chứng, theo dõi quản lý ngƣời bệnh THA. Bên cạnh đó, chƣa có một nghiên cứu nào đánh giá về thực hiện triển hai chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang, vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tăng huyết áp tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016”. Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở để thực hiện những cải cách trong việc quản lý bệnh nhân THA tại các TYT trong thành phố Tuyên Quang, cung cấp cơ sở dữ liệu và những thông tin cần thiết cho các nghiên cứu khác sau này. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá kết quả thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA tại Thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Định nghĩaTăng huyết áp Là khi huyết áp của bạn thƣờng xuyên cao hơn mức bình thƣờng (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trƣơng).
Theo Tổ chức Y tế Thế giới. Một ngƣời trƣởng thành ( ≥ 18 tuổi) gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng ≥ 90 mmHg. Tăng huyết áp có thể là tăng cả huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó [19]. Các chỉ số huyết áp 120-139/80-90 mmHg theo JNC VII hông coi là bình thƣờng nữa mà gọi là “Tiền tăng huyết áp” nghĩa là sau này có nguy cơ bị tăng huyết áp thật sự cao gấp 2 lần so với ngƣời có huyết áp bình thƣờng là < 120/80mmHg [43].
Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp 1. Triệu chứng tăng huyết áp Đa số bệnh nhân tăng huyết áp hông có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh thì có thể có các triệu chứng sau: - Đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dƣơng - Ù tai, hoa mắt, chóng mặt, đi lại loạng choạng không vững - Hay quên, trí nhớ giảm, tập trung chú ý giảm - Rối loạn vận mạch: tê chân tay, mất cảm giác, run đầu chi - Chảy máu cam - Rối loạn thần kinh thực vật: hay có cơn bốc hỏa, đỏ mặt, nóng bừng ngƣời Các triệu chứng trên là các triệu chứng hông đặc hiệu của ngƣời bệnh THA, với những triệu chứng đó cũng là triệu chứng của nhiều bệnh khác. - Đo huyết áp: Là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định tăng huyết áp [24]. Chẩn đoán tăng huyết áp 1.
Chẩn đoán xác định tăng huyết áp Dựa vào trị số huyết áp đo đƣợc sau hi đo HA đúng quy trình (Phụ lục 6) Ngƣỡng chẩn đoán THA thay đổi theo từng cách đo huyết áp. Các ngƣỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo [14] Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm Nội dung (HATT) trƣơng (HATTr) Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 mmHg ≥ 90 mmHg Đo bằng máy đo HA tự động 24 giờ ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg 1. Chẩn đoán phân độ THA Có nhiều cách phân độ tăng huyết áp, dựa vào phúc trình số 7 của Ủy ban liên hợp quốc gia Hoa Kỳ nhằm phát hiện, lƣợng giá, phòng ngừa và điều trị THA ( JNC VII), phân độ THA chỉ c n 2 độ và giai đoạn tiền THA (Bảng1. Bộ Y tế cũng đƣa ra cách phân độ THA dựa vào trị số HA do cán bộ y tế đo đƣợc (Bảng1.
Phân độ THA ở ngƣời ≥ 18 tuổi theo JNC VII [45]. Phân độ THA HATT(mmHg) HATr(mmHg) Huyết áp bình thƣờng < 120 < 80 Tiền THA 120 - 139 80 – 89 THA độ I 140 - 159 90 – 99 THA độ II ≥ 160 ≥ 100 6 Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp ở ngƣời trƣởng thành ≥ 18 tuổi[3] Phân độ HA HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ƣu < 120 < 80 HA bình thƣờng 120 - 129 80 - 84 Tiền THA 130 – 139 85-89 THA độ I ( nhẹ) 140 – 159 90 – 99 THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 100 – 109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90 Phân độ THA dựa vào chỉ số HATT và HATTr hoặc chỉ một trong hai dạng đó. Khi HATT và HATTr hông cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng đƣợc đánh giá theo mức biến.
Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp [34],[36]. - Rối loạn lipid máu: nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần làm hẹp l ng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan hác trong cơ thể. Động mạch bị xơ vữa sẽ ém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây tăng huyết áp. - Hút thuốc lá/lào: chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp.
- Ăn mặn: lƣợng muối ăn hàng ngày quá cao cũng là nguyên nhân gây THA. - Tiền sử gia đình có người bị THA: nhiều nghiên cứu cho thấy THA có thể có yếu tố di truyền. - Thừa cân/ béo phì; béo bụng. - Tuổi cao (nam > 55 tuổi, nữ > 65 tuổi) tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế gây nên THA.
- Uống nhiều rượu/bia: có mối liên quan với tăng huyết áp. 7 - Stress và căng thẳng tâm lý: căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim, dƣới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, Noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp. - Ít hoạt động thể lực: lối sống tĩnh tại cũng đƣợc coi là nguy cơ của THA. Biến chứng của tăng huyết áp Tăng huyết áp gây nên tổn thƣơng ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp là tổn thƣơng ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn.
Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi vì có thể gây chết ngƣời, mà c n để lại những di chứng nặng nề (liệt do TBMMN, suy tim, suy thận.) ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của BN và là gánh nặng của gia đình và xã hội [21]. Các biến chứng thƣờng gặp: - Đột quỵ, thiếu máu thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh - Phì đại thất trái (trên điện tâm đồ hay siêu âm tim), suy tim - Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi - Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị [3],[5]. Điều trị tăng huyết áp Điều trị Tăng huyết áp trong nghiên cứu này của chúng tôi theo hƣớng dẫn của Bộ Y tế năm 2010 theo Quyết định số 3192/ QĐ - BYT về việc ban hành chẩn đoán và điều trị Tăng huyết áp [3]. Phác đồ điều trị tại cơ sở chi tiết trong phụ lục 7 và phụ lục 8 [3].
Mục tiêu điều trị tăng huyết áp [3], [39] - Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị THA là nhằm giảm tối đa và lâu dài nguy cơ bệnh tim mạch. - Đối với hầu hết các bệnh nhân, HA mục tiêu phải ở mức < 140/90 mmHg, thậm trí thấp hơn nếu bệnh nhân có thể dung nạp đƣợc.