ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) là bệnh mạn tính do sự thiếu hụt insulin so với nhu cầu cần thiết của cơ thể. Bệnh đái tháo đƣờng có liên quan đến hàng loạt biến chứng nguy hiểm nhƣ là sự tổn thƣơng về dây thần kinh mắt, sự tổn thƣơng về thận và đƣợc biết nhiều nhất là các biến chứng thần kinh do bệnh đái tháo đƣờng. Biến chứng này có thể gây phiền toái nghiêm trọng đến đời sống làm việc và sinh hoạt của ngƣời bệnh [25]. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), đến tháng 8 năm 2011 số ngƣời mắc ĐTĐ trên thế giới là 346 triệu ngƣời.
Năm 2004, có 3,4 triệu ngƣời tử vong do các biến chứng của đái tháo đƣờng. Bệnh ĐTĐ có xu hƣớng phát triển rất nhanh tại các nƣớc đang phát triển, các nƣớc có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống, tốc độ đô thị hoá… trong các nƣớc này có Việt Nam [124]. Năm 2010, tỷ lệ ngƣời từ 20 đến 79 tuổi mắc ĐTĐ là 6,4%, năm 2030 dự kiến là 7,7%, từ năm 2010 đến 2030, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng 69% ở các nƣớc đang phát triển và 20% ở các nƣớc phát triển. Bệnh đái tháo đƣờng ảnh hƣởng đến tất cả các lứa tuổi và dân tộc, làm giảm chất lƣợng cuộc sống, giảm tuổi thọ và làm gia tăng gánh nặng về kinh tế cho hệ thống y tế và gia đình ngƣời bệnh [98].
Tỷ lệ tử vong ở nam mắc ĐTĐ cao hơn 1,9 lần so với nam không mắc ĐTĐ, tỷ lệ tử vong ở nữ mắc ĐTĐ cao hơn 2,6 lần nữ không mắc ĐTĐ [94]. Tỷ lệ ngƣời mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam đang tăng nhanh. Theo Bộ Y tế, số lƣợng ngƣời mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 170% trong 10 năm tới. Có 60% ngƣời bệnh ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán và điều trị kịp thời, có 95% ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán muộn và có các biến chứng của bệnh [30].
Tại Thái Bình, với các đối tƣợng tuổi từ 30-69 năm 2001, tại khu vực nội thành phố Thái Bình tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5,6%; năm 2003, điều tra toàn tỉnh tại 15 xã, phƣờng tỷ lệ mắc là 4,3%. Năm 2004, điều tra 23 xã, phƣờng tỷ lệ mắc là 5,2% và năm 2005, điều tra tại 15 xã, phƣờng cùng trong độ tuổi 30-69 là 2 6,2%, trong đó có 70,5% chƣa đƣợc chẩn đoán ĐTĐ và 10,4% đối tƣợng có rối loạn dung nạp glucose [10], [33]. Quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ tại nhà đóng vai trò hết sức quan trọng trong điều trị bệnh và làm tăng chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Thiếu thông tin về bệnh, thiếu kỹ năng chăm sóc, tự điều trị, chế độ ăn, chế độ luyện tập, theo dõi và điều trị các biến chứng làm giảm hiệu quả theo dõi, điều trị, giảm chất lƣợng cuộc sống, tăng gánh nặng bệnh tật cho ngƣời bệnh và xã hội.
Có nhiều phƣơng pháp khác nhau đƣợc áp dụng làm tăng hiệu quả quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh tại nhà cho ngƣời bệnh ĐTĐ, trong đó nguyên lý tự chăm sóc của Orem đƣợc áp dụng phổ biến. Tại Việt Nam, mặc dù có nhiều chƣơng trình, dự án can thiệp cộng đồng nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý, điều trị bệnh ĐTĐ, tuy nhiên các nghiên cứu về chất lƣợng cuộc sống và hiệu quả quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ tại nhà vẫn còn nhiều hạn chế. Để tìm hiểu toàn diện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ tại tỉnh Thái Bình và đánh giá hiệu quả tự chăm sóc, quản lý ngƣời bệnh tại nhà theo nguyên lý Orem, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu 1. Mô tả thực trạng kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Thái Bình năm 2013.
Đánh giá chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Thái Bình năm 2013. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại nhà tại tỉnh Thái Bình từ năm 2013-2014. 3 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN 1. Bệnh đái tháo đƣờng và đặc điểm bệnh đái tháo đƣờng 1.
Bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) là một nhóm bệnh chuyển hoá đặc trƣng bởi tình trạng tăng đƣờng huyết do hậu quả của thiếu insulin tƣơng đối hoặc tuyệt đối. Tình trạng tăng đƣờng huyết lâu dài sẽ gây ra nhiều rối loạn chức năng ở các cơ quan, đặc biệt là các mạch máu lớn và mạch máu nhỏ [5], [25]. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường năm 2011 HbA1c lớn hơn hoặc bằng 6,5% Đƣờng huyết tƣơng lúc đói lớn hơn hoặc bằng 126 mg/dL (7,0 mmol/L) sau một đêm nhịn đói ít nhất sau 8 giờ (ít nhất 2 lần thử) Đƣờng huyết tƣơng bất kỳ lớn hơn hoặc bằng 200mg/dL (11,1mmol/L) cộng với triệu chứng tăng đƣờng huyết.
Đƣờng huyết tƣơng 2 giờ sau uống 75g Glucose lớn hơn hoặc bằng 200mg/dL (ít nhất 2 lần thử) Các xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ nên đƣợc lập lại để xác định chẩn đoán, trừ trƣờng hợp đã quá rõ nhƣ có triệu chứng tăng đƣờng huyết kinh điển [5], [124]. Điều trị đái tháo đường Mục đích của điều trị đái tháo đƣờng: Làm hạn chế bớt các biến chứng và đƣa đƣờng máu về giới hạn bình thƣờng. Hạn chế đến mức thấp nhất các biến chứng. Đƣa cân nặng về bình thƣờng nhất là ngƣời bệnh béo phì.
Nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh, đƣa ngƣời bệnh trở lại học tập và lao động bình thƣờng [5]. 4 Mục tiêu điều trị theo khuyến cáo của hội nội tiết- ĐTĐ Việt Nam năm 2011 [5] Glucose máu (mmol/L): Kiểm soát mức tốt từ 4,4-6,1 mmol/l, kiểm soát mức chấp nhận đƣợc nhỏ hơn hoặc bằng 7,0 mmol/l, kiểm soát mức kém lớn hơn 7,0 mmol/l HbA1c (%): Kiểm soát mức tốt nhỏ hơn 6,5%, kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 6,5-7,5%, kiểm soát mức kém trên7,5% Huyết áp (mmHg): Kiểm soát mức tốt nhỏ hơn 130/80 mmHg, kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 130/80-140/90 mmHg, kiểm soát mức kém trên 140/90 mmHg. BMI (kg/m2): Kiểm soát mức tốt từ 18,5-22,9, kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 18,5-22,9, kiểm soát mức kém lớn hơn hoặc bằng 23. Cholesterol toàn phần (mmol/l): Kiểm soát mức tốt nhỏ hơn 4,5 mmol/l, kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 4,5 đến 5,2 mmol/l, kiểm soát mức kém trên 5,3 mmol/l HDL-C (mmol/l): Kiểm soát mức tốt trên 1,1 mmol/l , kiểm soát mức chấp nhận đƣợc lớn hơn hoặc bằng 0,9 mmol/l, kiểm soát mức kém nhỏ hơn 0,9 mmol/l Triglycerid (mmol/l): Kiểm soát mức tốt nhỏ hơn 1,5 mmol/l , kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 1,5- đến nhỏ hơn 2,2 mmol/l, kiểm soát mức kém lớn hơn hoặc bằng 2,2 mmol/l LDL-C (mmol/l): Kiểm soát mức tốt nhỏ hơn 2,5 mmol/l , kiểm soát mức chấp nhận đƣợc từ 2,5 đến nhỏ hơn 3,4 mmol/l, kiểm soát mức kém lớn hơn hoặc bằng 3,4 mmol/l 1.
Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), đến tháng 8 năm 2011 số ngƣời mắc ĐTĐ trên thế giới là 346 triệu ngƣời. Năm 2004, có 3,4 triệu ngƣời tử vong do các biến chứng của đái tháo đƣờng. Bệnh ĐTĐ có xu hƣớng phát triển rất 5 nhanh tại các nƣớc đang phát triển, các nƣớc có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống, tốc độ đô thị hoá…. trong các nƣớc này có Việt Nam.
Năm 2010, tỷ lệ ngƣời từ 20 đến 79 tuổi mắc ĐTĐ là 6,4%, năm 2030 dự kiến là 7,7%, từ năm 2010 đến 2030, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng 69% ở các nƣớc đang phát triển và 20% ở các nƣớc phát triển. Bệnh đái tháo đƣờng ảnh hƣởng đến tất cả các lứa tuổi và dân tộc, làm giảm chất lƣợng cuộc sống, giảm tuổi thọ và làm gia tăng gánh nặng về kinh tế cho hệ thống y tế và gia đình ngƣời bệnh. Theo nghiên cứu của Lee.L, tỷ lệ tử vong ở nam mắc ĐTĐ cao hơn 1,9 lần so với nam không mắc ĐTĐ, tỷ lệ tử vong ở nữ mắc ĐTĐ cao hơn 2,6 lần nữ không mắc ĐTĐ [94], [98], [123], [124]. Tại Mỹ, năm 2011, tỷ lệ mắc ĐTĐ toàn quốc là 8,3%, có 18,8 triệu ngƣời đƣợc chẩn đoán ĐTĐ, 7,0 triệu ngƣời chƣa đƣợc phát hiện và có 79 triệu ngƣời tiền ĐTĐ, trong năm 2010, nƣớc Mỹ phát hiện thêm 1,9 triệu ngƣời bệnh ĐTĐ mới [53].
Tại Trung Quốc, năm 2010, tỷ lệ mắc ĐTĐ (bao gồm cả ngƣời bệnh đã đƣợc chẩn đoán và chƣa đƣợc chẩn đoán) là 9,7%, trong đó nam 10,6% và nữ 8,8%, tỷ lệ tiền ĐTĐ là 15,5% trong đó nam 16,1% và nữ 14,9%) [127]. Tại Ả rập, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 12,3%, nam giới có tỷ lệ mắc ĐTĐ là 9,8%, thấp hơn tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nữ là 19,0%. Tại Nepal, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,8% [55], [83]. Tình hình bệnh đái tháo đường tại Việt Nam Tỷ lệ ngƣời mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam đang tăng nhanh.
Theo Bộ Y tế, số lƣợng ngƣời mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 170% trong 10 năm tới. Có 60% ngƣời bệnh ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán và điều trị kịp thời, có 95% ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán muộn và có các biến chứng của bệnh [25]. Theo nghiên cứu của Cao Thị Mỹ Phƣợng dự báo tại Việt Nam trong 10 năm tới, đối tƣợng nguy cơ cao tiến triển thành bệnh ĐTĐ là 0,9%. Dự báo tỷ lệ ĐTĐ sẽ tăng 3,3% vào năm 2020 và tỷ lệ ĐTĐ ở ngƣời từ 45 tuổi trở lên 6 đến năm 2020 là 12,8%.
Nếu điều chỉnh BMI và vòng bụng theo tiêu chuẩn Châu Á, tỷ lệ ĐTĐ dự báo là 13,6% [30]. Nguyễn Văn Vy Hậu dự báo tại Việt Nam, tỷ lệ ngƣời bệnh tiền ĐTĐ trên 45 tuổi bị ĐTĐ là 8,74%, trong đó nam giới là 7,68%, nữ giới là 9,64% [17]. Năm 2010, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên toàn quốc là 8%, tiền ĐTĐ là 12,9%, tỷ lệ mắc cao ở nhóm ngƣời bệnh trên 55 tuổi, vòng bụng và tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ cao gây tăng huyết áp [2]. Năm 2012, tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc là 5,7%, tỷ lệ ngƣời mắc tiền ĐTĐ là 12,8%, khu vực có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long (7,2%) và khu vực có tỷ lệ rối loạn dung nạp Glucose cao nhất là miền Đông Nam Bộ (17,5%) [3].
Tỷ lệ mắc ĐTĐ tại Đắc Lắk năm 2012 ở nam là 4,48%; ở nữ là 4,02%. Tỷ lệ tiền ĐTĐ ở nam là 11,77 %, ở nữ là 11,98%, chung toàn tỉnh tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,18%, tiền ĐTĐ là 11,94%. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở thành phố cao hơn nông thôn [41]. Tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đƣờng tại các doanh nghiệp tại Quảng Ninh và Thanh Hóa là 2,6%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Công ty than Cửa Ông chiếm tỷ lệ cao nhất với 3,7% và thấp nhất là Công ty thuốc lá Thanh Hóa là 1,3%.