ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh. Đái tháo đường típ 2 trước kia được gọi là Đái tháo đường của người lớn tuổi hay Đái tháo đường không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp Đái tháo đường. Người bệnh đái tháo đường nếu không tuân thủ điều trị tốt thì đường huyết không được kiểm soát, nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân đầu dẫn đến bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận và cắt cụt chi.
Có tới 70 trường hợp Đái tháo đường Típ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm sự xuất hiện bệnh bằng tuân thủ nối sống lành mạnh (dinh dưỡng hợp lý, tập thể dục. Theo số liệu của Hiệp hội Phòng, chống đái tháo đường thế giới, năm 2021 trên toàn cầu, cứ 10 người trưởng thành thì có hơn một đối tượng nghiên cứu típ 2. Các quốc gia có trên 20% dân số trưởng thành mắc bệnh bệnh này cũng ngày càng nhiều hơn. Thống kê từ năm 2000 tới nay cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người từ 20 đến 79 tuổi đã tăng hơn gấp ba lần và trong vòng 15 năm qua; chi phí về y tế cho bệnh đái tháo đường cũng tăng lên gấp ba lần.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 7 triệu người mắc đái tháo đường. Đáng chú ý, trong đó hơn 55% Người bệnh đã có biến chứng, trong đó 34% là biến chứng về tim mạch; 39,5% có biến chứng về mắt và biến chứng về thần kinh; 24% biến chứng về thận. Người bệnh đái tháo đường bị biến chứng không chỉ làm gia tăng chi phí y tế mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống. Sự tăng lên nhanh chóng của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, lối sống ít vận động, tỷ lệ người béo phì ngày càng tăng và lứa tuổi mắc bệnh đái tháo đường ngày càng trẻ hóa thực sự là một hồi chuông báo động.
Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát bệnh đái tháo đường, đó là tỷ lệ đái tháo đường dưới 10% (hiện ở mức 7,3%), tỷ lệ tiền đái tháo đường dưới 20% (hiện ở mức hơn 17%). Việc tuân thủ điều trị đối với bệnh lý đái tháo đường, trước tiên sẽ giúp kiểm soát tốt đường huyết. Hơn nữa, việc tuân thủ điều trị đối với 2 bệnh lý đái tháo đường sẽ giúp Người bệnh giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng cấp như nhiễm toan ceton, tăng áp lực thẩm thấu máu, hạ đường huyết, các biến chứng mạn như loét, nhiễm trùng bàn chân, giảm thị lực, bệnh thận do đái tháo đường, đột quỵ. Góp phần giảm nguy cơ nhập viện, giảm gánh nặng bệnh tật, giảm nguy cơ tử và nâng cao chất lượng cuộc sống [7].
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu cho thấy viêc tuân thủ điều trị Đái tháo đường của người dân ở một số tỉnh còn chưa cao. Theo nghiên cứu của Trần Văn Hải (2021) tại Bến Tre cho thấy có 5,5% người bệnh Đái tháo đường tuân thủ điều trị [15]. Nghiên cứu của Lê Thị Huyền Thoại (2022) tại Quảng Trị cho thấy có 12% người bênh tuân thủ điều trị chung và 72,3% tuân thủ chế độ dùng thuốc [17]. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu là Trung tâm hạng II được thành lập vào năm 2019, dựa trên việc sáp nhập 7 trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh.
Tính đến hết 31/12/2023, Số người bệnh được quản lý điều trị Đái tháo đường tại phòng khám đa khoa đạt 288 người bệnh trong đó số người bệnh đái tháo đường típ 2 đang được quản lý điều trị và cấp thuốc hàng tháng là 288 hồ sơ bệnh án [8]. Để có cơ sở tìm hiểu và đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường típ 2 đang điều trị tại phòng khám đa khoa thuộc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu như thế nào? Cũng như xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị là bao nhiêu, những yếu tố nào ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến việc tuân thủ điều trị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu năm 2024 và một số yếu tố liên quan”, với 2 mục tiêu nghiên cứu là: Mục tiêu 1: Đánh giá kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường ngoại trú tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu năm 2024. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm cơ bản có liên quan 1. Định nghĩa đái tháo đường Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [6]. Khái niệm về tuân thủ điều trị Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm tuân thủ điều trị của Bộ Y tế tại Quyết định số 5481/QĐ-BYT ngày 30/12/2020 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán, điều trị đái tháo đường típ 2 bao gồm đánh giá từng khía cạnh tuân thủ: 1.
Tuân thủ chế độ ăn, 2. Tuân thủ hoạt động thể lực, 3. Tuân thủ điều trị dùng thuốc 4. Tuân thủ điều trị khám định định kỳ và theo dõi đường huyết [6].3 Tuân thủ chế độ dinh dưỡng [1].
Đái tháo đường típ 2 là đái tháo đường không phụ insulin chiếm 90% tổng số người đái tháo đường nguyên phát, thường gặp ở người béo. Tuy nhiên người gầy cũng gặp khoảng 15-20%. Đái tháo đường típ 2 liên quan đến nhiều chế độ dinh dưỡng và lối sống. Chế độ dinh dưỡng là chế độ quan trọng nhất trong điều trị bệnh đái tháo đường với mục đích đảm bảo cung cấp đủ, cân bằng cả về số lượng và chất lượng các thành phần dinh dưỡng để có thể vừa điều chỉnh được đường huyết, duy trì cân nặng theo mong muốn, vừa đảm bảo cho người bệnh đủ sức khỏe để hoạt động và công tác phù hợp.
Nguyên tắc dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường: - Đủ nhu cầu năng lượng. - Đảm bảo hàm lượng đạm, béo, bột đường, vitamin, muối khoáng với tỷ lệ hợp lý. - Không làm tăng đường máu sau bữa ăn và hạ đường máu lúc xa bữa ăn. 4 - Hạn chế được các rối loạn chuyển hóa.
- Duy trì cân nặng ở mức hợp lý và các hoạt động thể lực hàng ngày. - Phù hợp với tập quán ăn uống của địa phương. - Đơn giản, tiện lợi và không quá đắt tiền. - Nhu cầu năng lượng và chất dinh dưỡng được cân đối và có hướng dẫn riêng cho Người bệnh đái tháo đường.
Người bệnh cần điều chỉnh thành phần dinh dưỡng trong bữa ăn cũng như số lượng thực phẩm, số bữa ăn trong ngày [1]. Tuân thủ hoạt động thể lực Thay đổi lối sống ngoài thay đổi chế độ ăn còn kèm theo chế độ tập luyện thể lực hợp lý từ đó giúp kiểm soát và đạt hiệu quả tốt trong điều trị bệnh đái tháo đường. Theo Bộ Y tế, Người bệnh đái tháo đường cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, số lượng nhịp tim. Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết >250-270mg/dL và ceton dương tính.
Loại hình luyện tập thông dụng nhất: Đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày) không lên ngưng tập luyện 2 ngày liên tiếp. Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ). Người già, đau khớp có thể chia tập luyện nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi bữa 10-15 phút. Người còn trẻ lên tập khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần [1].
Tuân thủ điều trị dùng thuốc Người bệnh phải dùng thuốc đúng liều, đúng giờ, đều đặn theo chỉ dẫn của bác sĩ, các trường hợp bỏ thuốc, dùng thuốc không theo chỉ dẫn của bác sĩ được coi là không tuân thủ dùng thuốc [14]. Tuân thủ khám định kỳ và kiểm soát đường huyết Người bệnh thực hiện khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ 1 tháng/lần và thực hiện kiểm tra đường huyết 1 tháng/lần tại cơ sở khám bệnh [32]. Định nghĩa hoạt động thể lực Là các công việc thường ngày, có ở tất cả các dạng hoạt động thể lực [22, 24, 25]. Đái tháo đường Típ 2 Đái tháo đường Típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ.
Thể bệnh này bao gồm nhưng người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống người bệnh ĐTĐ típ 2 không cần insulin để sống sót. Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ Típ 2 nhưng không có 1 nguyên nhân chuyên biệt nào. Người bệnh không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu.
Đa số người bệnh có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ Típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường [6].
Cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường Típ 2 Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ típ 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào. Người bệnh không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số Người bệnh có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to.