ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn giao thông đường bộ là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trên toàn thế giới, và có ảnh hưởng đến nhiều vùng và quốc gia [40]. Mỗi năm có tới 1,3 triệu người chết vì tai nạn giao thông với hơn 3.000 trường hợp tử vong mỗi ngày [30, 37, 38]. Khoảng 90% các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tai nạn giao thông là một trong 3 nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong cho các đối tượng từ 5 – 44 tuổi.
Nếu không có các chương trình can thiệp/ hoạt động phòng chống cụ thể, tai nạn giao thông có thể trở thành nguyên nhân thứ 5 dẫn đến tử vong trên thế giới, dẫn đến khoảng 2,4 triệu người chết mỗi năm [39]. Tai nạn giao thông cũng là một nguyên nhân gây ra những tổn thất to lớn về kinh tế. Tai nạn giao thông được ước lượng tương đương với 1% - 3% GNP của nhiều quốc gia trên thế giới, tương đương với tổng số tiền 500 tỉ đô la mỗi năm [39]. Tại Việt Nam, TNGTĐB là một trong mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do TNTT nói chung và nhóm tuổi từ 15 trở lên [6-8].
Trong 6 tháng đầu năm 2011, cả nước đã xảy ra 23.000 vụ TNGT, làm chết 5662 người, bị thương 25. Bình quân một ngày cả nước xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông làm chết 35 người [24]. Nguyên nhân gây TNGTĐB được đề cập là các nguyên như người điều khiển thiếu kiến thức về ATGT, về luật giao thông, hay thực hành của người tham gia giao thông còn kém như phóng nhanh, vượt ẩu, đi quá tốc độ, sử dụng điện thoại di động khi lái xe, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông chưa tốt,. Sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông cũng là một trong những nguyên nhân gây nên các vụ TNGTĐB nghiêm trọng tại Việt Nam.
Có tới 6,7% vụ TNGTĐB liên quan đến rượu và trong tổng số TNTT liên quan đến rượu bia. 28% 2 người điều khiển phương tiện giao thông bị thương tích có sử dụng rượu bia; 33,8% nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông được xét nghiệm có nồng độ cồn trong máu, trong đó 71% nạn nhân lái mô tô, xe máy [22] Theo báo cáo của 6 bệnh viện thuộc 6 thành phố/ huyện tại 3 tỉnh Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Bình, trong khoảng thời gian 7 tháng từ 12/2010 đến 6/2011 có tổn số 2.797 bệnh nhân nhập viên do TNGTĐB, trong đó có 829 bệnh nhân (29,6%) được ghi nhận có nồng độ cồn trong máu; ngòai ra có 107 bệnh nhân (3,8%) nghi ngờ qua đánh giá cảm quan có sử dụng rượu [9-14]. Tỉ lệ người điều khiển phương tiện tử vong do TNGT có sử dụng rượu, bia chiếm 12%, còn lại 11,7% không sử dụng và 76,3% không được ghi nhận [16]. Tại Việt Nam, các biện pháp phòng chống TNGTĐB được thực hiện lồng ghép trong chương trình phòng chống TNTT nói chung và thực hiện riêng theo từng chuyên đề trên phạm vi cả nước và phạm vi của từng địa phương.
Hầu hết các cơ quan, ban ngành và một số tổ chức phi chính phủ đều thực hiện hoặc tham gia thực hiện hoạt động phòng chống TNGTĐB. Các hoạt động phòng chống TNGTĐB của ngành y tế từ năm 2002 đến 2010 [5]: xây dựng các văn bản pháp quy góp phần kiềm chế TNGTĐB, các hoạt động truyền thông giáo dục được thực hiện từ cấp trung ương tới địa phương và cộng đồng; xây dựng và kiện toàn hệ thống giám sát tai nạn thương tích, tăng cường và nâng cao hoạt động sơ cứu, cấp cứu và phục hồi chức năng và tiến hành chương trình xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn. Kế hoạch Phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của ngành y tế giai đoạn 2011 – 2015 với mục tiêu tăng cường triển khai các nhiệm vụ của ngành y tế trong công tác phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do tai nạn thương tích tập trung vào 5 mục tiêu trong đó bao gồm mục tiêu bố trí ngân sách và triển khai các hoạt động PCTNTT tại cộng đồng, ưu tiên các loại hình tai nạn thương tích (TNTT) có tỷ lệ tử vong cao như tai nạn giao thông và các loại hình tai nạn thương tích khác. 3 Dự án “An toàn giao thông tại 10 Quốc gia” Phòng chống uống rượu, bia và lái xe tại Việt Nam là một trong những chương trình can thiệp nhằm mục tiêu hỗ trợ kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống uống rượu bia và lái xe.
Các hoạt động chính trong chương trình can thiệp của dự án bao gồm tuyên truyền, trang bị máy đo nồng độ cồn và tổ chức cưỡng chế thông qua hoạt động công tác của các chiến sỹ cảnh sát giao thông, tổ chức thu thập số liệu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu các nạn nhân TNGTĐB nhập viện và theo dõi giám sát các hoạt động của dự án. Nhằm góp phần đánh giá mục tiêu của dự án, và được sự hỗ trợ giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế công cộng, học viên tiến hành nghiên cứu “Sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành về qui định hạn chế sử dụng rươu, bia khi tham gia giao thông của nam giới điều khiển xe máy tại Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Giang năm 2011” dựa trên bộ số liệu sẵn có của dự án “An toàn giao thông tại 10 Quốc gia” Phòng chống uống rượu, bia và lái xe tại Việt Nam. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự thay đổi kiến thức về qui định hạn chế sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông của nam giới điều khiển xe máy tại các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Bắc Giang qua 4 vòng điều tra năm 2011.
Mô tả sự thay đổi thái độ về qui định hạn chế sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông của nam giới điều khiển xe máy tại các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Bắc Giang qua 4 vòng điều tra năm 2011. Mô tả sự thay đổi thực hành về qui định hạn chế sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông của nam giới điều khiển xe máy tại các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Bắc Giang qua 4 vòng điều tra năm 2011. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và đặc điểm của tai nạn giao thông đường bộ Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp tránh, gây ra thiệt hại về sức khoẻ hoặc tính mạng [3, 4].
Đặc điểm của TNGTĐB: - Xảy ra hoặc xuất phát ở những đường/ tuyến giao thông công cộng - Có ít nhất một nạn nhân (tử vong hoặc không tử vong) - Có ít nhất 1 phương tiện tham gia giao thông đang chuyển động [4] 1. Một số khái niệm và tác hại của rượu với an toàn giao thông Khái niệm chung về rƣợu: Rượu là một hợp chất đặc biệt có tên gọi hóa học là ethylic alcohol (Ethanol) được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc [26]. Tác hại của rƣợu với an toàn giao thông: Sử dụng chất có cồn và lái xe là một vấn đề an toàn đường bộ lớn tại nhiều quốc gia mặc dù mắc độ ảnh hưởng của nó thường không rõ ràng – đặc biệt tại các nước thu nhập thấp và trung bình. Ngay cả khi uống ở mức độ vừa phải thì chất cồn cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện một số kĩ năng về an toàn đường bộ, bao gồm tầm nhìn và khả năng lái xe 6 Tác hại của chất có cồn làm tăng nguy cơ bị va chạm giao thông của tất cả đối tượng tham gia giao thông, bao gồm lái xe ô tô, mô tô, người đi xe đạp và đi bộ.
Người lái xe sử dụng chất có cồn có nguy cơ bị va chạm cao hơn nhiều so với những người không có cồn trong máu, và nguy cơ này tăng lên nhanh chóng cùng với sự gia tăng nồng độ cồn trong máu. Đối với những người điều khiển xe mô tô, có nồng độ cồn trong máu trên 0,05g/100ml được ước lượng là có nguy cơ bị va chạm cao gấp 40 lần so với những người có nồng độ cồn trong máu bằng 0 [33]. Nồng độ Những ảnh hƣởng tới cơ thể cồn trong máu (g/100ml) 0,01 – 0,05 Tăng nhịp tim và nhịp thở Giảm các chức năng thần kinh trung ương Mâu thuẫn khi thể hiện các hành vi cư xử Giảm khả năng phán đoán và sự ức chế Cảm thấy phấn chấn, thư giãn và thoải mái 0,06 – 0,10 Giảm đau về mặt sinh lý ở hầu như toàn bộ cơ thể Giảm sự chú ý và cảnh giác, phản ứng chậm, làm giảm sự phối hợp và giảm sức mạnh của các cơ bắp Giảm khả năng đưa ra các quyết định dựa trên lý trí hoặc khả năng đánh giá Tăng sự lo âu và chán nản Giảm tính kiên nhẫn 0,10 – 0,15 Phản ứng chậm một cách rõ rang Suy giảm khả năng giữ cân bằng và di chuyển Suy giảm một số chức năng thị giác Nói líu lưỡi Nôn, đặc biệt nếu nồng độ cồn trong máu tăng lên nhanh 0,16 – 0,29 Suy yếu trầm trọng các giác quan, bao gồm sự giảm của nhận 7 thức về các kích thích bên ngoài Suy yếu trầm trọng cơ vận động/thần kinh vận động, ví dụ như thường xuyên bị choáng, ngã 0,30 – 0,39 Không có phản ứng Bất tỉnh Có thể so sánh với việc bị gây mê khi phẫu thuật Tử vong (nhiều trường hợp) 0,40 và Hôn mê nhiều hơn Ngừng thở Tử vong, thường do suy hô hấp Một số nghiên cứu cho thấy sự liên quan giữa SDRB và TNGT như trong một nghiên cứu ở Pháp thực hiện năm 1999 cho thấy có 40% các trường hợp TNTT và 4.000 trường hợp tử vong do TNGT có liên quan đến SDRB. Tại Thụy Điển, hơn ½ số người tử vong do TNGT là có SDRB.
Tại New Zealand, SDRB khi TGGT gây ra 25% các trường hợp tử vong do TNGTĐB. Trong số nam giới ở độ tuổi từ 20-24 có 29% tử vong do TNGTĐB liên quan đến SDRB.