Chương 1. Khái quát chung về phòng ngừa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng I. Khái niệm phòng ngừa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tai sản trên không gian mạng 1. Một số khái niệm liên quan * Hành vi lừa đảo: Theo từ điển tiếng Việt, “Lừa đảo” là dùng thủ đoạn gian dối đánh lừa người khác để mưu lợi.
Thủ đoạn gian dối rất đa dạng, nhăm giấu giém nội dung sai sự that (ít, nhiều hoặc hoàn toàn) lam cho người khác tin, nhằm, tưởng giả là thật dé chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất khác hoặc che giấu một việc làm xấu. Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành động chiếm đoạt, nó thé hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nói dối, dùng giấy tờ giả mạo, giả danh người có chức, có quyền, vy.! Theo từ điển Luật học, “Lừa đảo” là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, dùng mọi phương pháp giấu diém nội dung, nói sai sự thật lam cho người có tài sản hoặc có trách nhiệm về tài sản vì tin nhằm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay nên đã giao tài sản cho kẻ lừa đảo mà không hay biét.? Như vậy, hành vi lừa dao là hành vi ' Theo từ điền tiếng Việt ? Từ điên Luật học trang 299 sử dung thủ đoạn “gian dối” dé chiếm đoạt tài san. “Gian đối” là đưa ra thông tin gia, lệ A599 không đúng sự thật nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật, nhăm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, việc đưa ra các thông tin giả có thể băng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, chữ viết hoặc hành động ( ví dụ như mượn điện thoại sau đó mang di ban, không trả lại điện thoại cho chu sở hữu). * Chiếm đoạt tài sản Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là gan liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối. * Không gian mạng Không gian mạng hay không gian ảo là môi trường nhân tạo, con người không trực tiếp gặp nhau, nhưng lại có thể trao đôi thông tin, liên lạc với nhau qua một hệ thống mạng, được kết nối toàn cầu - mạng toàn cầu, trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các vùng, khu vực và toàn cầu. Không gian mạng hay không gian ảo là một thuật ngữ được đặt ra bởi tác giả khoa học viễn trưởng William Gibson trogn truyện “Burning Chrome” năm 1982 và sau đó được phó biến trong cuốn tiêu thuyết “Neucromancer” năm 1984 của ông. Không gian mang đã trở thành một thuật ngữ được áp dụng rộng rãi, nhưng hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức và toàn điện va không gian mạng.
Theo Viện tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (National Institute of Standards and Technology- NIST), không gian mạng là “mét miễn toàn cau trong môi trường thông tin bao gom mạng lưới cơ sở hạ tang hệ thong thông tin phụ thuộc lân nhau, bao gém Internet, mạng viên thông, hệ thong máy tính và bộ xử lý nhúng và bộ điễu khiển ”3. Theo Cơ quan an ninh mạng quốc gia Pháp, không gian mạng là “không gian giao tiếp được tạo thành từ kết nói toàn cau của thiết bị xử ly dữ liệu SỐ tu động ”“, nghĩa là nó là không gian giáo tiếp được tạo ra bởi kết nối trên toàn thế giới của thiết bị xử lý dữ liệu kĩ thuật số tự động, do đó các thành phần chính của không gian mạng có thể được định nghĩa và phân loại thành công nghệ, sự phức tạp và yếu tố con người cùng tính toàn cầu của nó. NIST Glossary of Key Information Security Term, Gaithersburg: National Institute of Standard and Technology (2013),58 # ANSSI Cyber Security Strategy, protecting and promoting the UK in a digital wordl (2011) 5 Theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, không gian mạng được định nghĩa là “mién toàn cau trong môi trường thông tin bao gôm mạng lưới cơ sở hạ tang công nghệ thông tin phụ thuộc lần nhau, bao gém Internet, mạng viễn thông và bộ xử lý nhúng diéu khiển ”, nó được mô tả gồm ba lớp và được tạo thành từ năm thành phần (địa lý, mạng vật lý, mạng logic, cyber persona và tính cách): + Lớp vật lý (Physical Layer) bao gồm thành phần đại lý và thành phần mạng vật lý. Thanh phan địa lý là vị trí vật lý của các yêu tố của mạng.
Thành phan vật ly bao gồm tất cả các phần cứng và cở sở hạ tầng (có dây, không dây và cáp quang) hỗ trợ mạng và các đầu nối vật ly (dây, cap, tần số vô tuyến, bộ định tuyến, máy chủ và máy tính). + Lớp Logic (logical layer) chứa thành phần mang logic có bản chất kĩ thuật và bào gồm các kết nối logic tồn tại giữa các nút mạng. Các nút là bất kì thiết bị nào được kết nối với mạng máy tinh. Các nút có thé làm máy tinh, trợ lý kĩ thuật số cá nhân, điện thoại di động hoặc các thiết bị mạng khác.
Thành phần nhân cách bao gồm nhận dạng của một người hoặc nhân cách, khía cạnh của người được thể hiện trên mạng như địa chỉ email, dịa chỉ IP máy tính, số điện thoại đi động và những thông tin khác. Thành phần là nhân cách, khía cạnh con người (personal) bao gồm những người thực sự trên mạng. Ở Việt Nam, Luật An ninh mạng năm 2018 của nước ta định nghĩa: “Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tang công nghệ thông tin, bao gom mạng viễn thông, mạng internet, mang máy tinh, hệ thống xử ly và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian ”.5 Nghiên cứu về không gian mạng và môi trường mạng ở nước ta cho thấy, hai quan niệm này rất gần nhau. Khoản 3, Điều 4, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quan niệm: “Môi trường mang là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tang thông tin”.
Ma “Cơ sở hạ 3 Cyberspace Operations Concept Capability Plan 2016-2028, 20 Feb 2010 Khoản 1 điêu 3 luật an ninh mang 2018 6 tang thông tin là hệ thong trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gom mạng viễn thông, mang internet, mang máy tính và cơ sở đữ liệu ” 7 Như vậy, ở Việt Nam, không gian mạng hay môi trường mạng, cách nói khác nhau, nhưng về bản chất không khác nhau vì đều là không gian ảo, nơi con người có thé liên lạc, kết nối, trao đôi, giao tiép với nhau. Hiện nay, không gian mang rất rộng lớn, hệ thống các mạng dang được sử dụng bao gồm: trình duyệt web (Google, Chrome, Mozilla Firefox , Opera, Safari.); trang web tin tức (VnExpress, Tin tức, Zing news, VTC News.); mạng xã hội (Facebook, Twitter, YuMe, Instagram, Zing me, Youtube, Skype, WeChat, Google Plus, Go.); tim kiếm, tra cứu (Google map, Bing, Google Docs.); tiện ích (chuyên tiền, việc làm, email, thiệp điện tử.); trang mạng mua bán, kinh doanh, học tập, âm nhạc, giải trí. Như đã đề cập nêu trên, không gian mạng là một không gian rộng lớn, nơi có sự kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và con người thực hiện hành vi của mình mà không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Sự phát triển của không gian mạng nói chung và mạng internet nói riêng đã và đang diễn ra bùng né và phát triển vượt bậc, bởi các yêu tô như sau: Một là, sự phát triển của cuộc cách mạng 4.0 đã có những tác động to lớn tới mạng internet, trong đó có mạng xã hội, thể hiện ở việc sự kết nối giữa người với người đã được thuận lợi hơn bao giờ hết, chỉ cần những click là đã có thê kết nối giao tiếp được với nhau thê hiện qua việc nhắn tin, gọi video, nói chuyện qua các trang mạng xã hội.
thậm chí là làm việc, điều hành công việc cũng được thực hiện qua các nên tảng mạng số. Điều này được coi là thành tựu to lớn mà cách mạng SỐ mang lại. Hai là, do tình hình dịch bệnh COVID — 19 cũng như xu thé phát triển của đời sông xã hội nên con người đã bắt đầu làm quen và phụ thuộc vào mạng internet với đủ mọi độ tuôi, từ trẻ nhỏ, trung niên và người gia, có thê khăng định rằng, việc sử dụng mạng internet đã trở thành thói quen của con người trong cuộc sống ngày nay. Điều nay được thê hiện qua số lượng người dùng mạng internet ở Việt Nam ta qua các giai đoạn như sau: Biểu Đồ lượng người dùng Internet Việt Nam (giai đoạn 2010 — 2021) 7 Khoản 4 điều 4 luật công nghệ thông tin INăm Số lượng người dùng Nguồn 2010 26.000 Stalista, We Are Social 2019 66.000 InternetLiveStats Nhận xét: Qua số liệu nêu trên, có thé thay rang tinh từ năm 2010 đến năm 2021 thì số liệu người dùng mạng Internet ở Việt Nam tăng hơn 42 triệu người, một con số rất lớn, như vậy thay được sự phố cập rộng rãi của mang internet tới người dân Việt Nam.
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng Theo đó, trước sự phát triển của mạng xã hội đã đem lại những điểm tích cực đến xã hội như tạo thuận lợi cho việc giao lưu liên kết, và làm việc được dễ dàng và hiệu quả, tuy nhiên đây cũng là cơ sở cho các kẻ xấu lợi dụng dé thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, bang các thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt. Nhat là trong tình hình dịch bệnh như hiện nay thì việc giao tiếp, sử dụng qua mạng xã hội là rất lớn, kèm với sự thiếu hiểu biết và sự tham lam nhất thời nên nhiều đối tượng đã bị lừa đi số tiền rất lớn, thậm chí lên tới tiền tỷ. Vậy nên cho thể thấy rằng, hành vi lừa đảo trên không gian mạng đã và đang diễn ra phức tạp, đe dọa và tiềm ân gây ra những hệ lụy to lớn tới tài sản của người khác cũng như trật tự an ninh mạng. Qua đây vấn đề đặt ra cho các cơ quan nhà nước là cần phải có các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả, dé có thé đảm bảo được quyên và lợi ích chính đáng của nhà nước, cá nhân và tô chức.