CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÃ ĐỘC 1. Giới thiệu về mã độc máy tính Mã độc hay phần mềm độc hại là các chương trình máy tính có chứa bên trong nó nội dung các mã độc hại được tạo ra với mục đích thực hiện các hành vi bất hợp pháp như: truy cập trái phép, đánh cắp thông tin người dùng, lây lan thư rác, thậm chí thực hiện các hành vi tống tiền (ransomware), tấn công và gây tổn thương cho các hệ thống máy tính… nhằm chuộc lợi cá nhân , hoặc các lợi ích về kinh tế, chính trị hay đơn giản chúng có khi được tạo ra chỉ là một trò đùa ác ý nào đó. Bất kỳ một phần mềm nào là lý do làm tổn thương, phá vỡ đến tính bí mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của dữ liệu người dùng, máy tính hoặc môi trường mạng đều có thể được xem như các mã độc. Ngày nay ,cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin các ứng dụng máy tính, các phần mềm hệ thống không ngừng thay đổi và phát triển mạnh mẽ, mã độc ban đầu từ chỗ chỉ là những chương trình nhỏ có khả năng tự sao chép đến nay mã độc và các biến thể của nó đang ngày càng trở nên đa dạng, tinh vi mức độ nguy hiểm ngày càng gia tăng đang trở thành một nguy cơ đe dọa trực tiếp đến an toàn, an ninh thông tin.
Phân loại mã độc Ban đầu các phần mềm độc hại được tạo ra bằng cách sống kí sinh và lây nhiễm trên các vật chủ là các chương trình có chứa các nội dung thực thi. Các đoạn mã máy nhiễm độc được lây lan tồn tại trong một vài chương trình ứng dụng, các chương trình tiện ích hoặc các hệ thống máy tính thậm chí ngay chính trên các mã được dùng để khởi động máy tính. Các phần mềm độc hại này được xác định và phân loại bởi mục đích độc hại hay các hành vi của nó, có thể kể tên như: Virus, Trojan, Logic Bombs, BackDoors…Các dạng chương trình độc hại kiểu khác là các chương trình mã độc mà tự chúng có khả năng thực thi một các độc lập trên các phần mềm hệ thống mà không cần kí sinh trên các vật chủ là các chương trình ứng dụng hay tệp tin. Các mã độc dạng này thường có khả năng tự nhân bản chúng lợi dụng các lỗ hổng bảo mật để tấn công hay thực hiện các hành vi độc hại, đại diện cho các dạng mã độc này là các sâu máy tính (worm).
Một cách khác để phân biệt các loại mã độc khác nhau là dựa trên mục đích và các hành vi của chúng. Ngày nay mã độc đang ngành càng phát triển và tiến hóa không ngừng trong đó nổi lên là các dạng mã độc mà có khả năng ngụy trang và lén lút thực hiện các hành vi đánh cắp thông tin, thực hiện nghe lén hay thâm nhập như là các phần z 4 mềm gián điệp hay các chương trình khai thác lỗ hổng bảo mật trên máy tính người dùng trong thời gian dài. Một số loại mã độc khác chủ yếu được thực thi mà hành vi của nó tập trung vào mục đích lây lan và phá hoại gây nhiễm cho hệ thống máy tính. Như vậy có thể nói phần mềm độc hại có thể được tạm chia thành các loại khác nhau theo phương thức và hoạt động của chúng, Các phần mềm chống virus đôi khi không quan tâm đến tên của nó, có khả năng phát hiện ra các kiểu mã độc như sau: Có 3 đặc điểm thường liên quan với các loại phần mềm độc hại là: - Mã độc tự nhân bản và nỗ lực lây nhiễm bằng việc tạo các bản sao chép mới hoặc các thể hiện của chính nó.
Mã độc cũng có thể được lây nhiễm một cách bị động thông qua thao tác vô ý của người dùng tạo ra các sự kiện kích hoạt hay sao chép nhưng điều này không được coi là tự nhân bản. - Sự tăng trưởng về số lượng của phần mềm độc hại mô tả sự thay đổi tổng thể trong đó có số lượng lớn các trường hợp là do tự nhân bản, Những mã độc mà không tự nhân bản sẽ luôn luôn có một sự tăng trưởng bằng không nhưng mã độc với một sự tăng trưởng bằng không lại có thể là những mã độc tự nhân bản. - Phần mềm độc hại ký sinh yêu cầu một số chương trình mã thực thi khác để tồn tại. Thực thi trong ngữ cảnh này nên được hiểu chung là bao gồm bất cứ thứ gì có thể thực thi được, như là các khối khởi động trên đĩa, mã nhị phân trong các ứng dụng và các mã biên dịch.
Nó cũng bao gồm các mã nguồn như là các ngôn ngữ kịch bản, hay là các mã yêu cầu biên dịch trước khi chúng được thực thi. Virus máy tính Virus là một loại mã độc có các đặc điểm như tự nhân bản, chúng ký sinh trên các vật chủ, virus là một chương trình độc hại mà khi được thực thi nó sẽ cố gắng sao chép chính nó vào bên trong một mã thực thi khác. Khi thành công thì mã chương trình được gọi là mã bị lây nhiễm. Các mã lây nhiễm khi chạy có thể tiếp tục lây nhiễm sang các mã mới.
Sự tự sao chép này tồn tại trong các mã thực thi là một đặc tính xác định quan trọng của một virus. Khi virus được lây nhiễm nó có thể thực hiện một loạt các hành vi như thay đổi, xóa, hay sao chép các tệp tin cũng như phát tán chúng trên các hệ thống máy tính. Hiểu theo cách truyền thống thì Virus có thể lây lan bên trong một máy tính duy nhất hoặc có thể di chuyển từ một máy tính đến máy tính khác bằng việc sử dụng các phương tiện vận chuyển đa phương tiện của con người như là đĩa mềm, CD-ROM, z 5 DVD-ROM, hoặc USB,… Nói cách khác Virus không lây lan thông qua mạng máy tính thay vào đó mạng máy tính là một miền hoạt động của các sâu máy tính. Tuy nhiên Virus hiểu theo cách truyền thống đôi khi được dùng để chỉ bất kỳ phần mềm độc hại nào có khả năng tự sao chép.
Virus có thể được bắt gặp trong các giai đoạn khác nhau của sự tự nhân bản. Một mầm mống nảy sinh là hình thức ban đầu của Virus trước khi diễn ra bất kỳ một sự tự sao chép nào, một Virus mà thất bại trong việc tự tái tạo lại được gọi là một dự định, điều này có thể xảy ra như là kết quả của lỗi trong các virus hoặc sự gặp phải một phiên bản bất ngờ của hệ điều hành. Một virus có thể trú ẩn, nơi mà nó hiện diện nhưng chưa lây nhiễm hay làm bất cứ điều gì ví dụ một cửa sổ có chứa virus có thể ở trên một máy chủ tập tin chạy trên hệ điều hành Unix và không có hiệu lực ở đó, nhưng có thể được xuất và di chuyển sang các máy Windows về cơ bản một Virus được trải qua 4 giai đoạn, giai đoạn 1 là trú ẩn như đã trình bày ở trên, giai đoạn 2 virus thực hiện lây nhiễm bằng việc việc sao chép chính nó vào các tệp tin hay chương trình máy tính khác, giai đoạn 3 virus được kích hoạt để chuẩn bị chạy các đoạn mã độc, giai đoạn 4 virus thực thi các chức năng của nó theo đúng kịch bản mà kẻ đã tạo ra nó. Một virus máy tính gồm 3 thành phần chính như sau: Cơ chế lây nhiễm: Làm thế nào để virus có thể lây lan bằng cách sửa đổi mã khác để chứa một sao chép của virus, các cách chính xác thông qua đó một loại virus lây lan được gọi là vector lây nhiễm của nó.
Đây không phải là duy nhất, một loại virus lây nhiễm theo nhiều cách được gọi là đa phương. Kích hoạt: Các cách quyết định xem có hay không để mở một payload Payload: là mã lệnh hay cái mà virus thực hiện bên cạnh việc lây nhiễm Ngoại trừ cơ chế lây nhiễm, 2 thành phần còn lại có thể tùy chỉnh do vậy lây nhiễm là một trong những chìa khóa định nghĩa các đặc điểm của một virus. Trong sự thiếu vắng tính chất lây nhiễm nếu mã độc hại chỉ chứa thành phần kích hoạt và payload trường hợp này được gọi là mã độc logic bomb. Virus có thể được phân loại bằng nhiều cách, dựa vào mục tiêu cố gắng lây nhiễm của virus, và dựa vào các phương thức mà virus sử dụng để che giấu bản thân nó với các hệ thống phát hiện và các phần mềm chống virus.
Phân loại virus dựa vào các hình thức lây nhiễm: 1. Virus lây nhiễm Boot-Sector Virus lây nhiễm Boot-Sector là một virus lây nhiễm bằng việc sao chép chính nó đến khối khởi động bằng cách như vậy sau khi hệ điều hành máy tính tiến hành khởi động nó sẽ thực thi các đoạn mã virus bị chèn vào chứ không phải là các đoạn mã khởi động thông thường. Virus có thể sao chép nội dung của khối khởi động cũ ở nơi khác trên đĩa đầu tiên hoặc nơi cố định an toàn trên ổ đĩa để virus có thể chuyển điều khiển đến nó sau khi hoàn thành xử lý tiến trình khởi động.1 Khối khởi động bị lây nhiễm bởi nhiều virus [10] Phương pháp này sẽ gặp vấn đề nếu như máy tính bị nhiễm nhiều lần bởi những loại virus khác nhau khi chúng cùng sử dụng một địa điểm an toàn để lưu trữ đoạn mã khởi động, do ở lần tiếp theo virus sẽ tiếp tục sao chép đoạn mã virus trước đó đến vùng an toàn vô tình ghi đè lên đoạn mã nạp chương trình thực sự do vậy bị xóa và chúng sau khi thực hiện các chức năng của mình không có cách nào có thể quay trờ lại khởi động máy tính, đây là một tổn hại không chủ ý được gây ra bởi virus, ngày nay virus boot không còn được thấy xuât hiện nhiều do tốc độ lây lan chậm và khả năng tiến hóa không cao của nó. Virus lây nhiễm tập tin: Virus lây nhiễm tập tin hệ điều hành có một khái niệm về tập tin được thực thi, trong một ý nghĩa rộng hơn các tập tin thực thi cũng có thể bao gồm các tập tin mà có thể chạy bởi các dòng lệnh người sử dụng như “shell”.
Một tập tin lây nhiễm là một virus lây lan là những tập tin được hệ điều hành hay “shell” xem là để thực thi nó có thể bao gồm các tập tin “batch” và mã kịch bản “shell” nhưng các mã nhị phân thực thi là những mã thực thi phổ biến nhất. z 7 Có 2 vấn đề cần quan tâm chính trong lây nhiễm tập tin đó là: 1. Virus thì nằm ở đâu ? 2.