CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ AN TOÀN MẠNG MÁY TÍNH VÀ HỆ THỐNG PHÁT HIỆN XÂM NHẬP TRÁI PHÉP 1. Các nguy cơ gây mất an toàn thông tin trên mạng máy tính 1. Thực trạng mất an toàn thông tin tại Việt Nam năm 2017 Tại Hội thảo quốc tế Ngày an toàn thông tin Việt Nam 2017 với chủ đề “An toàn thông minh trong thế giới kết nối mới”, VNISA đã công bố nhiều báo cáo quan trọng liên quan đến thực trạng an toàn thông tin hiện nay: - Số vụ tấn công, lừa đảo trên Internet ngày càng tăng cao. Chỉ tính riêng nửa đầu năm, cả nước đã có 6.
- Các doanh nghiệp Việt Nam còn chủ quan trong các vấn đề đảm bảo an ninh mạng.0 Tất cà nhóm DN Ngân hàng-tài Các doanh nghiệp (360) chinh (56) khác (304) 3 Hình 1. Chỉ số an toàn thông tin của các nhóm doanh nghiệp - Đại diện VNISA đã công bố kết quả khảo sát hiện trạng, đánh giá Chỉ số an toàn thông tin năm 2017 đối với nhóm các doanh nghiệp. VNISA đã thực hiện khảo sát hiện trạng an toàn thông tin của 360 doanh nghiệp tại 3 vùng trọng điểm Hà Nội, TPHCM, Đà Nằng, gồm 304 doanh nghiệp vừa và nhỏ và 56 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng - Tài chính. Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ số an toàn thông tin năm 2017 của các doanh nghiệp là 54.2%, của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng - Tài chính là 59.9%, của các doanh nghiệp khác là 31.1%, tất cả tương đối thấp và đang ở mức trung bình.
- Mặt khác, số vụ lừa đảo trên mạng xã hội Facebook ngày càng diễn biến khó lường. Trên thế giới, tình hình an toàn thông tin cũng ở mức hết sức đáng báo động, tiêu biểu là vụ mã độc WannaCry đã xảy ra trong năm vừa rồi. Các nguy cơ mất an toàn thông tin - Các nguy cơ mất an toàn thông tin do yếu tố khách quan: Khi có sự cố về an ninh mạng xảy ra, thiết bị phần cứng của cá nhân hoặc tổ chức có thể bị hư hỏng, chập chờn, không hoạt động bình thường. - Các nguy cơ gây mất an toàn thông tin do yếu tố chủ quan: + Nguy cơ bị mất, hỏng, sửa đổi thông tin: Một trong những nỗi lo nhất của doanh nghiệp mỗi khi xảy ra sự cố an toàn thông tin là bị mất, hỏng, bị thay đổi nội dung.
Nguy hiểm hơn, kẻ tấn công có thể đánh cắp toàn bộ dữ liệu rồi ép nạn nhân trả tiền chuộc. + Nguy cơ bị tấn công bởi các phần mềm độc hại: Hacker có thể sử dụng nhiều kỹ thuật tấn công khác nhau để xâm nhập vào bên trong hệ thống như: Virus, phần mềm gián điệp. + Nguy cơ lộ thông tin trên mạng xã hội: Nạn nhân có thể bị Hacker bắt chuyển tiền hoặc máy tính của nạn nhân bị lộ dữ liệu, nhiễm mã độc. + Nguy cơ mất an toàn thông tin đối với Website: Một số thiệt hại do mất 4 an toàn thông tin đối với Website có thể là bị chiếm quyền điều khiển, bị hack web, website bị treo không truy cập được, bị thay đổi giao diện website, bị chèn link lạ, bị mất tài liệu.
+ Các nguy cơ gây mất an toàn xuất phát từ chính sách an toàn thông tin: Chính sách an toàn thông tin của một đơn vị, cơ quan được lập ra để đảm bảo an toàn cho hệ thống, song nó cũng có những điểm yếu, lỗ hổng. Chính sách có thể xuất hiện điểm yếu sau một quá trình sử dụng hoặc sau một quá trình nâng cấp hệ thống. + Nguy cơ mất an toàn thông tin xuất phát từ việc cấu hình cho thiết bị mạng hoặc phần mềm: Nhiều thiết bị mạng được sử dụng theo nhu cầu về hiệu suất mà không quan tâm đến các vấn đề an ninh hoặc do việc thiết lập an ninh trên các thiết bị này không được đảm bảo dẫn đến nhiều vấn đề an ninh khác nhau. Một số tấn công lên mạng máy tính 1.
Tấn công từ chối dịch vụ Tấn công từ chối dịch vụ (Denial of Service - DOS) là kiểu tấn công làm cho một hệ thống nào đó bị quá tải không thể cung cấp dịch vụ, làm gián đoạn hoạt động của hệ thống hoặc hệ thống phải ngưng hoạt động. Ngoài ra còn có kiểu tấn công từ chối dịch vụ phân tán DDoS (Distributed Denial of Service) và mới nhất là tấn công từ chối dịch vụ theo phương pháp phản xạ DRDoS (Distributed Reflection of Service). Tấn công từ chối dịch vụ cổ điển DoS sử dụng các hình thức: đăng nhập liên tiếp, tấn công Smurf, trong đó kẻ tấn công sinh ra nhiều giao tiếp ICMP tới địa chỉ Broadcast của các mạng với địa chỉ nguồn là mục tiêu cần tấn công. Tấn công dịch vụ phân tán DDoS xuất hiện vào năm 1999, so với tấn công DoS cổ điển, sức mạnh của DDoS cao hơn gấp nhiều lần.
Hầu hết các cuộc tấn công DDoS nhằm vào việc chiếm dụng băng thông gây nghẽn mạch hệ thống 5 dẫn đến hệ thống ngưng hoạt động. Để thực hiện thì kẻ tấn công tìm cách chiếm dụng và điều khiển nhiều máy tính/mạng máy tính trung gian, từ nhiều nơi để đồng loạt gửi ào ạt các gói tin với số lượng rất lớn nhằm chiếm dụng tài nguyên và làm nghẽn đường truyền của một mục tiêu xác định nào đó. Tấn công thăm dò Đối với kiểu tấn công thăm dò (Probe) này, kẻ tấn công quét mạng hoặc máy tính để tìm ra điểm yếu dễ tấn công mà thông qua đó kẻ tấn công có thể khai thác hệ thống. Điều này có phần giống như theo dõi, giám sát hệ thống.
Một cách phổ biến của loại tấn công này là thực hiện thông qua việc quét các cổng của hệ thống máy tính. Bằng việc này, kẻ tấn công có thể lấy được thông tin về cổng đang mở, dịch vụ đang chạy, và rất nhiều thông tin chi tiết nhạy cảm khác như địa chỉ IP, địa chỉ MAC, các luật tường lửa đang sử dụng. Ví dụ kỹ thuật tấn công Portsweep: Là kỹ thuật tấn công giám sát, quét qua nhiều cổng để xác định các dịch vụ hỗ trợ trên một máy chủ độc lập. Tấn công chiếm quyền root Kiểu tấn công chiếm quyền root (User to Root - U2R): Kẻ tấn công với quyền của một người dùng bình thường cố gắng để đạt được quyền truy nhập cao nhất (đặc quyền của người quản trị) vào hệ thống một cách bất hợp pháp.
Cách thức phổ biến của tấn công này là gây tràn bộ đệm (Buffer_overflow), tấn công tràn bộ đệm xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào có chương trình ghi lượng thông tin lớn hơn dung lượng của bộ nhớ đệm trong bộ nhớ. Kẻ tấn công có thể ghi đè lên dữ liệu và điều khiển chạy các chương trình và đánh cắp quyền điều khiển. Kiểu tấn công này ít gặp hơn so với hai kiểu tấn công DoS và probe. Tuy nhiên, đây cũng là loại tấn công rất nguy hiểm do kẻ tấn công chiếm được quyền cao nhất và chúng có thể kiểm soát toàn bộ hệ thống.
Tấn công điều khiển từ xa Đây là kiểu tấn công điều khiển từ một máy tính từ xa có tên tiếng anh là “Remote to local” hay R2L. Ban đầu, kẻ tấn công không có tài khoản trong hệ thống nhưng chúng lại cố gắng gửi các gói tin đến một máy tính trong một hệ thống thông qua mạng. Sau đó, chúng khai thác các lỗ hổng bảo mật để truy cập trái phép nhưng với tư cách của một người dùng cục bộ. Cách tấn công phổ biến của loại này là đoán mật khẩu thông qua phương pháp cổ điển brute-force, hoặc sử dụng kỹ thuật tấn công Spy: là kỹ thuật tấn công sử dụng phần mềm gián điệp, các phần mềm gián điệp thường được kết hợp với các phần mềm hiển thị quảng cáo (gọi chung là phần mềm quảng cáo) hoặc các phần mềm theo dõi các thông tin cá nhân nhạy cảm.
các phần mềm này thu thập thông tin người dùng hoặc thay đổi cấu hình máy tính của cá nhân, doanh nghiệp. Một số giải pháp tăng cường bảo vệ mạng máy tính Với các nguy cơ mất an toàn hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu các giải pháp tăng cường bảo vệ cho mạng máy tính là rất cần thiết. Để bảo vệ cho hệ thống thông tin, cá nhân, tổ chức nên tuân thủ theo các các giải pháp sau đây: - Đặt mật khẩu mạnh: Đảm bảo rằng các tài khoản trên mạng xã hội, website, ứng dụng của bạn cần đặt mật khẩu mạnh. Mật khẩu nên chứa dấu gạch dưới hoặc @, số, ký tự chữ.
Cá nhân, tổ chức nên tránh đặt những mật khẩu dễ như 123456, 123456789, tên + ngày sinh,. - Mã hóa dữ liệu: Đối với những thông tin quan trọng, mật thiết, chúng ta nên mã hóa trước khi gửi đi. Mục đích của việc mã hóa thông tin là tránh khỏi sự nhòm ngó, tấn công của Hacker. Mã hóa dữ liệu là phương pháp bảo vệ thông tin dữ liệu bằng cách chuyển dữ liệu từ dạng thông thường sang dạng bị mã hóa không thể đọc được, nhưng có thể đưa về dạng ban đầu được nhờ một hình thức giải mã tương ứng.
Tác dụng của nó là ngăn chặn việc nghe trộm và chỉnh sửa 7 dữ liệu trên đường truyền, bên thứ ba có thể lấy được các gói tin đã mã hóa, nhưng không thể đọc được nội dung thông điệp từ các gói tin này. Ngăn chặn việc giả mạo thông tin và đảm bảo tính không thể chối bỏ của an toàn thông tin. Tương ứng với mỗi cách mã hóa là một cách giải mã nhất định. - Sử dụng tường lửa: Tường lửa có thể là phần mềm hay phần cứng được thiết kế để ngăn chặn những truy cập trái phép và cho phép các truy cập hợp pháp được lưu thông dựa trên một tập luật và các tiêu chuẩn khác.
Ngoài ra tường lửa còn có thể mã hóa, giải mã hay ủy quyền cho các giao dịch giữa các miền bảo mật khác nhau. Một số loại tường lửa có chức năng chuyên dụng như: tường lửa lọc gói, cổng ứng dụng, cổng mức mạch. - Cài đặt phần mềm diệt virus: Cài đặt phần mềm chống virus xâm nhập cũng là một giải pháp được các chuyên gia khuyến cáo. Lưu ý, người dùng nên quét virus trước khi tải phần mềm về máy, hoặc quét virus trước khi mở phần mềm ra.
Một số công cụ online giúp kiểm tra mã độc như: BKAV, Kaspersky. - Sử dụng phần mềm có nguồn gốc rõ ràng: Đảm bảo rằng mọi phần mềm, ứng dụng trên thiết bị có nguồn gốc rõ ràng sẽ giúp hạn chế nguy cơ làm mất an toàn thông tin.