CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG KHOÁ CÔNG KHAI 1.1 Khái quát về cơ sở hạ tầng khoá công khai 1.1 Cơ sở hạ tầng khóa công khai (Public Key Infrastructure – PKI) Xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng cho các phiên giao dịch và trao đổi thông tin điện tử cần bảo mật đã nảy sinh ra các vấn đề an toàn như sau: Tính toàn vẹn (Integrity): đảm bảo rằng thông tin không bị sửa đổi Tính xác thực (Authenticity): xác thực nguồn gốc thông tin Tính bảo mật (Confidentiality): Đảm bảo rằng thông tin được giữ bí mật Tính không chối bỏ (Non-repudiation): đảm bảo rằng thông tin không thể bị chối bỏ nguồn gốc. Những mục tiêu an toàn này được đáp ứng bằng cách sử dụng các hệ thống PKI (cơ sở hạ tầng khóa công khai). Ta có thể định nghĩa PKI như sau: Cơ sở hạ tầng khoá công khai (Public Key Infrastructure-PKI) là một tập hợp các chính sách, các quy trình, thiết bị phần cứng, phần mềm sử dụng để quản lý, cấp phát chứng thư số đảm bảo cho việc cung cấp các dịch vụ xác thực và bảo mật [10]. Từ định nghĩa này ta có thể thấy rằng: - PKI là một hạ tầng cơ sở cho phép các tổ chức triển khai và ứng dụng bảo mật dựa trên hệ thống mã khoá công khai, nhằm đảm bảo an toàn thông tin liên lạc và các giao dịch trên mạng/Internet.
- PKI bao gồm các thủ tục, các dịch vụ và các chuẩn hỗ trợ phát triển các ứng dụng áp dụng các kỹ thuật mã khoá công khai. - Thiết lập được các PKI tin tưởng cho người dùng là điều kiện tiên quyết phát triển thương mại điện tử và Chính phủ điện tử. Hệ thống PKI được xây dựng dựa trên hệ mật khóa công khai. Mỗi người tham gia vào hệ mật khóa công khai có: Khóa công khai (public key):sử dụng cho mục đích xác thực chữ ký, mã hóa thông tin Khóa bí mật (private key): sử dụng để ký các thông điệp hoặc để giải mã các thông điệp đã được mã hóa bằng khóa công khai tương ứng.
-9- Hệ mật khóa công khai ra đời đảm bảo rằng chỉ những thực thể sở hữu khóa hợp lệ có thể thực hiện những thao tác nhất định (ví dụ: ký một thông điệp, hoặc giải mã các thông điệp). Để đảm bảo điều này, một liên kết giữa các thực thể đó và khóa của họ phải được thiết lập, từ đó: - Một thông điệp có thể được mã hóa với khóa hợp lệ - Xác thực người đã ký thông điệp - Hệ thống mật mã khoá công khai là nền tảng cơ bản để xây dựng Mục đích của cơ sở hạ tầng khóa công khai PKI là để cung cấp các mối liên hệ giữa những người sử dụng và khóa công khai tương ứng của họ theo một phương thức an toàn. Để tin tưởng vào khóa công khai của một người sử dụng trong hệ PKI, người ta đưa ra khái niệm chứng thư số (certificate). Chứng thư số được hiểu là một tài liệu điện tử gắn một khóa công khai với một thực thể nào đó.
Chứng thư số chứa những thông tin chẳng hạn như danh tính và khóa công khai đi kèm, ngày hết hạn của chứng thư của một người, một tổ chức, hoặc của một thiết bị phần cứng hoặc phần mềm… Chứng thư số sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong phần sau.2 Các thành phần chính của một hệ thống PKI Certificate Authority (CA) là một tổ chức được tin tưởng trong việc cấp phát chứng thư số và công nhận các nội dung thông tin lưu giữ trong chứng thư số. CA là trái tim của hệ thống PKI, là tổ chức quản lý của PKI Registration Authority (RA) là cơ quan chịu trách nhiệm xác nhận về tính trung thực của yêu cầu sử dụng chứng thư số. RA không có trách nhiệm sinh và ký chứng thư. RA sau khi nhận yêu cầu sẽ chuyển sang CA để thực hiện.
Kết quả của CA sẽ được chuyển tới người yêu cầu thông qua RA Local Registration Authority (LRA) là đại diện của RA tại địa phương, thực hiện các chứng năng của RA tại khu vực quản lý của mình. Các chức năng của một LRA đó là: - Xác nhận các thông tin về người đăng ký - Chấp thuận các yêu cầu đăng ký sử dụng - Gửi yêu cầu cấp mới tới CA - Gửi cầu gia hạn tới CA - Gửi cầu hủy bỏ chứng thư tới CA -10- - Hỗ trợ tại chỗ cho người sử dụng Dịch vụ thư mục để tra cứu chứng thư là một dạng cấu trúc cây thư mục dùng để lưu trữ các chứng thư số của toàn bộ người dùng trong hệ thống phục vụ tra cứu, tìm kiếm chứng thư. Danh sách hủy bỏ (Certificate Revocation List – CRL) danh sách hủy bỏ CRL phục vụ việc kiểm tra tình trạng các chứng thư số bị hủy bỏ. Sau đây là một mô hình kiến trúc hệ thống PKI: Trung tâm chứng thực điện tử LDAP (máy chủ thư mục) Trung tâm CA Cơ quan đăng ký địa phương User User User User User User Hình 1.1: Mô hình kiến trúc hệ thống PKI Trung tâm chứng thực CA đứng ra chịu trách nhiệm và đảm bảo sự tin cậy vào khóa công khai cũng như danh tính của chủ sở hữu khóa.
Chứng thư số được ký bởi một trung tâm chứng thực CA bằng khóa bí mật của CA. Chứng thư số do CA phát hành là để xác thực danh tính của những người sử dụng và khóa công khai đi kèm, CA có trách nhiệm phát hành quản lý, cung cấp các dịch vụ cần thiết trên những chứng thư này. Các chức năng mở rộng của hệ thống PKI: - Hệ thống kiểm tra tình trạng chứng thư online (OCSP – Online Certificate Status Protocol). - Hệ thống chứng thực nhãn thời gian (Time Stamp Authority).3 Các loại kiến trúc của một trung tâm chứng thực CA Lợi ích của việc có một CA là: bất kỳ người sử dụng nào biết được khóa công khai của CA có thể lấy được khóa công khai của những người sử dụng khác đã được CA xác thực.
Như vậy để lấy được khóa công khai của những người sử dụng một cách tin cậy thì cần phải biết được khóa công khai của CA. Vấn đề nảy sinh là làm cách nào để cung cấp cho những người sử dụng khóa công khai của CA theo một phương thức an toàn? Điều này có thể được giải quyết theo những mô hình hệ thống sau: Hệ thống CA một cấp Khóa công khai của CA được truyền an toàn tới những thực thể tham gia trong hệ PKI. Điều này được thực hiện bằng cách sử dụng một chứng thư được ký bởi chính CA đó, trường hợp này gọi là chứng thư tự ký (self-signed certificate). Để tạo ra một chứng thư tự ký tin cậy, điều cần thiết là phải truyền chứng thư này tới những người sử dụng theo một phương thức an toàn (tính toàn vẹn thông tin), chẳng hạn như gửi một mã hash (tóm lược thông điệp) trên kênh truyền.
CA User User User Hình 1.2 Mô hình hệ thống CA một cấp Hệ thống CA phân cấp Trong hệ thống CA nhiều cấp, CA gốc (root CA) xác thực những CA cấp dưới, và mỗi CA cấp dưới có thể phát hành các chứng thư trên các CA trực thuộc…Điều này có nghĩa rằng bất kỳ ai biết được khóa công khai của root CA có thể xác thực tất cả chứng thư được phát hành bởi hệ thống những CA cấp dưới. Trường hợp này được gọi là -12- CA SubCA-1 SubCA- 2 User User User Hình 1.3 Mô hình hệ thống CA phân cấp Hệ thống CA ngang cấp (mô hình chứng thực chéo) Thay vì cấu trúc CA phân cấp, hai CA có thể xác thực lẫn nhau. Trong trường hợp này bất kỳ ai có khóa công khai của một trong hai CA này (chứng thư số tự ký) có thể dựa vào đó mà xác thực chứng thư số được phát hành bởi CA còn lại. Trường hợp này được gọi là User User CA CA CA User User User User Hình 1.4 Mô hình hệ thống CA ngang cấp -13- Trong thực tế sự kết hợp giữa 3 kiểu CA có thể được sử dụng.2 Các hoạt động chính trong hệ thống PKI 1.1 Danh tính của những người tham gia vào hệ thống PKI Như đã đề cập, chứng thư số chứa đựng những thông tin về người sử dụng đã được chứng thực, và một điều quan trọng là thông tin này phải chính xác.
Công việc xác thực danh tính của những người sử dụng được thực hiện tại cơ quan đăng ký địa phương LRA (Local Registration Authority). Cơ quan đăng ký LRA thường được đặt tại địa điểm độc lập với CA. Sau các thủ tục đăng ký (nếu LRA chấp thuận), LRA sẽ gửi thông tin về những người sử dụng cùng với yêu cầu của họ tới trung tâm chứng thực CA, và bây giờ thông tin này đã sẵn sàng cho việc phát hành hoặc hủy bỏ chứng thư.2 Phát hành và quản lý các chứng thư Khi một người sử dụng đã được xác nhận danh tính và được cơ quan đăng ký LRA chấp nhận yêu cầu, một chứng thư sẽ được phát hành trên khóa công khai của người sử dụng. Khóa này có thể được sinh bởi người sử dụng (chương trình ứng dụng được trao cho người sử dụng) hoặc bởi trung tâm CA.
Trong cả hai trường hợp khóa phải được gửi an toàn đến CA bởi vậy CA có thể liên kết nó với những thông tin chính xác đã được LRA gửi cho CA. Các chứng thư số được phát hành, đồng thời được lưu trữ trong một thư mục chứng thư, trong trường hợp một người sử dụng trong hệ thống PKI có thể tải về nếu cần thiết. Tại bất kỳ thời điểm nào trung tâm CA phải duy trì một trạng thái đúng đắn của các chứng thư, chẳng hạn như khi chứng thư bị hủy bỏ vì một lý do nào đó (nghi ngờ khóa bị lộ, hết hạn…). Người sử dụng có thể lấy được trạng thái chính xác của các chứng thư tại bất cứ thời điểm nào.
Đối với những chứng thư bị hủy bỏ sẽ được đưa vào danh sách gọi là danh sách các chứng thư hủy bỏ CRLs (Certificate Revocation lists). Điều này cũng nói lên rằng nếu một chứng thư không xuất hiện trên danh sách CRL, nó có thể coi là vẫn hoạt động bình thường. CA phải duy trì danh sách CRL này và thiết lập danh sách này trên một thư mục.3 Mô hình hoạt động, cấp phát, hủy bỏ chứng thư số LDAP User Trung tâm CA RA Hình 1.