Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo Luật hình sự Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Quý Khuyến, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Cao Thị Oanh và TS. Lê Đăng Doanh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2021 thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9380104).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin (CNTT) và mạng viễn thông (MVT) tại Việt Nam. Theo Báo cáo chỉ số tích hợp phát triển bưu chính năm 2018 của Liên minh Bưu chính thế giới, Việt Nam xếp hạng 45/172 quốc gia; đồng thời theo Báo cáo chỉ số an toàn thông tin toàn cầu năm 2018 của Liên minh Viễn thông quốc tế, Việt Nam xếp thứ 50/194 quốc gia và đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN. Song hành với sự phát triển này, tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT diễn biến ngày càng phức tạp: các hành vi lợi dụng Internet để xuyên tạc, vu khống, xâm phạm thông tin cá nhân; phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc nhằm vào hệ thống mạng của cơ quan, doanh nghiệp; đánh cắp thông tin thẻ tín dụng để mua hàng hóa chuyển về Việt Nam; lừa đảo thương mại điện tử dẫn đến việc nhiều tổ chức quốc tế từ chối giao dịch có địa chỉ IP từ Việt Nam. Các hành vi này có tính chất phi biên giới, gây khó khăn cho việc xử lý người phạm tội ở nước ngoài nhưng gây thiệt hại tại Việt Nam.

Về mặt lập pháp, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 ban đầu chỉ quy định 3 điều luật (Điều 224, 225, 226). Đến lần sửa đổi năm 2009, các điều luật này được bổ sung và phát triển thêm hai điều luật mới. BLHS năm 2015 tiếp tục hoàn thiện khi quy định tên riêng cho nhóm tội và bổ sung 4 tội danh mới tại các điều 285, 291, 293 và 294. Mặc dù vậy, quy định pháp luật vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong giai đoạn 2009 - 2020, ngành Tòa án nhân dân trên toàn quốc đã xét xử sơ thẩm 445 vụ án với 933 bị cáo phạm tội trong lĩnh vực này, song thực tiễn áp dụng vẫn gặp nhiều vướng mắc. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là loại tội phạm mới, kỹ thuật cao, phức tạp, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ về nhóm tội này theo quy định của BLHS năm 2015 còn rất hạn chế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT như khái niệm, đặc điểm, phân loại và cơ sở quy định trong BLHS.
  2. Nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT nhằm làm sáng tỏ lý luận và làm căn cứ so sánh, đánh giá với Luật hình sự Việt Nam.
  3. Nghiên cứu thực trạng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT, so sánh với pháp luật quốc tế để chỉ ra kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế cần sửa đổi, bổ sung.
  4. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2020, làm rõ kết quả, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học trong và ngoài nước; quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của Luật hình sự Việt Nam; quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận dưới góc độ Luật hình sự thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Phạm vi thực tiễn áp dụng quy định của Luật hình sự giới hạn trong hoạt động xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án trên phạm vi toàn quốc giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân tích và hệ thống hóa số lượng lớn công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm chủ đề cụ thể:

Các hướng nghiên cứu trong nước:

  • Về khái niệm tội phạm CNTT, MVT theo nghĩa hẹp (coi CNTT, MVT là mục tiêu tấn công): Bài viết của Trần Cảnh Hưng (2003) trên Tạp chí Kiểm sát; bài viết của Dương Tuyết Miên và Nguyễn Ngọc Khanh (2000) trên Tạp chí Tòa án nhân dân.
  • Về khái niệm tội phạm CNTT, MVT theo nghĩa rộng (coi CNTT, MVT là mục đích, công cụ, phương tiện hoặc vật trung gian cất giấu dấu vết): Sách chuyên khảo của TS. Phạm Văn Lợi chủ biên (NXB Tư pháp, 2007); sách của Viện Chiến lược và Khoa học công an (NXB CAND, 2007); luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hồng Lê (2009), Trần Thanh Thảo (2013); các bài viết của Nguyễn Mạnh Toàn (2002), Đặng Trung Hà (2009), Nguyễn Hòa Bình (2003).
  • Về bình luận quy định pháp lý và kỹ thuật lập pháp: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 1) của Trường Đại học Luật Hà Nội (2015); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 do TS. Nguyễn Đức Mai chủ biên (2013); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 2) của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016); các cuốn Bình luận khoa học BLHS năm 2015 do TS. Lê Đăng Doanh và PGS. Cao Thị Oanh chủ biên (2018), GS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên (2018), nhóm tác giả PGS. Trần Văn Luyện, PGS. Phùng Thế Vác, TS. Lê Văn Thư, TS. Mai Văn Bộ, LS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Ngọc Hà, LS. Phạm Thị Thu (2018); Đề tài khoa học cấp Bộ do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa làm chủ nhiệm (2016) với chuyên đề của TS. Nguyễn Văn Hương.
  • Về thực tiễn áp dụng và vướng mắc định tội danh: Các nghiên cứu của Phạm Văn Lợi (2007), Viện Chiến lược và Khoa học công an (2007), Nguyễn Minh Đức (2008), Mai Thế Bảy (2002), Đỗ Văn Chỉnh (2004), Lê Đăng Doanh (2004, 2006), Trần Vũ Hải (2004), Dương Tuyết Miên (2004), Bùi Văn Nhơn và Phạm Quang Béo (2005), Nguyễn Văn Hoàn (2010), Phạm Minh Tuyên (2013), Nguyễn Quý Khuyến (2018).

Các hướng nghiên cứu quốc tế:

  • Về lý thuyết, khái niệm và phân loại tội phạm mạng: Công trình của Debra Littlejohn Shinder (2002); Li, Xingan (2005); Marco Gercke (ITU, 2012); Yvonne Jewkes và Majid Yar (2011); Petter Gottschalk (2011); tài liệu của UNODC (2011, 2013); Chawki, M. (2005); Frances P. Bernat và David Makin (2014).
  • Về pháp luật quốc tế và hài hòa hóa lập pháp: Nghiên cứu Comprehensive Study On Cybercrime của Steven Malby, Robyn Mace, Anika Holterhof, Cameron Brown, Stefan Kascherus, Eva Ignatuschtschenko (UNODC, 2013); Stein Schjolberg (2008); Aaron Shull (2014); Marc D. Goodman và Susan W. Brenner; Mike Keyser về Công ước Budapest 2001.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam tiếp cận khái niệm tội phạm CNTT, MVT theo nghĩa rất rộng, bao gồm tất cả các tội phạm có sử dụng máy tính xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự kinh tế hay sở hữu; hoặc chủ yếu nghiên cứu các điều luật của BLHS năm 1999 cũ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xác định hệ thống lý luận tội phạm CNTT, MVT với tư cách là một nhóm tội danh độc lập trong BLHS xâm phạm an toàn thông tin, dữ liệu và mạng viễn thông; phân tích toàn diện các dấu hiệu pháp lý mới của BLHS năm 2015 trong sự so sánh với các điều ước quốc tế; đồng thời tổng kết thực tiễn áp dụng án sơ thẩm toàn quốc trong suốt 12 năm (2009 - 2020) để đề xuất giải pháp đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết: Luận án dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; hệ thống lý luận về tội phạm và hình phạt của Luật hình sự Việt Nam; đường lối, chủ trương, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phòng, chống tội phạm.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    • Câu hỏi chung: Trong giai đoạn hiện nay, các quy định của Luật hình sự Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa hiệu quả đối với tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT hay chưa?
    • Các câu hỏi cụ thể:
      1. Hệ thống lý luận về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT đã đầy đủ, hoàn thiện và thống nhất hay chưa?
      2. Các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT có phù hợp, phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội phạm này hay không?
      3. Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam trong những năm qua như thế nào, đạt kết quả gì, gặp khó khăn, vướng mắc gì và nguyên nhân do đâu?
      4. Trong thời gian tới, cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT?
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết chung: Luật hình sự Việt Nam cơ bản đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm CNTT, MVT, nhưng vẫn còn tồn tại, hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện và có giải pháp thực hiện hiệu quả hơn.
    • Các giả thuyết cụ thể:
      1. Hệ thống lý luận đã được xác định nhưng còn nội dung chưa thống nhất, cần được tiếp tục hoàn thiện.
      2. Các quy định của Luật hình sự còn một số bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng, cần được sửa đổi.
      3. Việc áp dụng quy định từ năm 2009 đến 2020 đạt kết quả nhất định song còn hạn chế do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp định tính kết hợp với thống kê mô tả thực tiễn xét xử. Các phương pháp cụ thể bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh luật (so sánh quy định trong nước với Công ước Budapest 2001, Luật mẫu năm 2002 của Khối thịnh vượng chung, Công ước của các nước Châu Phi năm 2014, Công ước của các nước Ả Rập), phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp mô tả và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn xét xử.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ; các văn bản pháp luật quốc tế; 168 tài liệu tham khảo trích dẫn; số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2009 - 2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề chung về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng và pháp luật quốc tế:

  • Khái niệm không gian mạng và tội phạm CNTT, MVT: Dẫn chiếu quan điểm của Danid T. Kuehl về sự hình thành không gian mạng bên cạnh đất liền, biển và không gian vũ trụ. Tác giả luận giải khái niệm tội phạm CNTT, MVT và sau khi tiếp thu ý kiến của Hội đồng đánh giá, định nghĩa này được xác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự sử dụng hoặc lạm dụng CNTT, MVT thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử.
  • Đặc điểm của tội phạm CNTT, MVT: Luận án xác định 5 đặc điểm pháp lý hình sự cơ bản sau khi đã lược bỏ các đặc điểm thuần túy thuộc tội phạm học (như tính không giới hạn không gian/thời gian hay đặc điểm chủ thể có trình độ cao) để bảo đảm đúng phạm vi luật hình sự.
  • Phân loại tội phạm: Phân tích các mô hình phân loại quốc tế của Debra Littlejohn Shinder (chia theo tính chất bạo lực với con người, xâm phạm thế giới ảo, phi bạo lực khác) và Chawki, M. (chia thành 6 nhóm hành vi: hacking, virus/mã độc, lừa đảo, đe dọa/nói xấu, khủng bố mạng, trộm cắp qua mạng).
  • Pháp luật quốc tế về tội phạm CNTT, MVT: Khảo cứu chi tiết Công ước Budapest 2001 của Hội đồng Châu Âu, Luật mẫu năm 2002 của Khối thịnh vượng chung (Commonwealth), Công ước của các nước Châu Phi về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2014, Công ước các nước Ả Rập. Luận án chỉ ra 4 nội dung trọng tâm trong luật quốc tế: (1) Hình sự hóa các hành vi phạm tội; (2) Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm; (3) Xác định thẩm quyền tài phán; (4) Quy định thủ tục tố tụng và chứng cứ điện tử.

Chương 2. Quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Chương 2 phân tích quá trình lập pháp và các cấu thành tội phạm cụ thể:

  • Khái quát lịch sử lập pháp: Phân tích theo hai giai đoạn phát triển:
    • Giai đoạn từ năm 2010 trở về trước: BLHS năm 1999 lần đầu quy định tại Chương XIX với 3 tội danh (Điều 224, 225, 226); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa đổi 3 điều này và bổ sung thêm 2 tội danh mới (Điều 226a, 226b).
    • Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017: Quá trình xây dựng BLHS năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2017, đưa các tội phạm này thành mục riêng trong Chương XXI.
  • Quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Phân tích dấu hiệu pháp lý, khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và chế tài hình phạt của toàn bộ 9 điều luật thuộc Mục 2 Chương XXI (từ Điều 285 đến Điều 294), trong đó có 4 tội danh mới được bổ sung:
    • Điều 285: Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật.
    • Điều 291: Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng.
    • Điều 293: Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh.
    • Điều 294: Tội cố ý gây nhiễu có hại.
  • Đánh giá tính tương thích: So sánh quy định của BLHS năm 2015 với các chuẩn mực quốc tế (đặc biệt là Công ước Budapest 2001) để xác định điểm tương thích và các khoảng trống lập pháp cần tiếp tục hoàn thiện.

Chương 3. Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2009 - 2020: Tổng hợp dữ liệu từ ngành Tòa án với các bảng thống kê chi tiết:
Danh mục bảng biểu trong luận án Nội dung thống kê thực tiễn giai đoạn 2009 - 2020 Trang tài liệu
Bảng 1 Số lượng vụ án và bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT (Tổng số: 445 vụ / 933 bị cáo) Trang 154
Bảng 2 Số lượng vụ án về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT Tòa án đã thụ lý, trả hồ sơ điều tra bổ sung và tồn đọng Trang 156
Bảng 3 Số lượng vụ án và bị cáo đã xét xử sơ thẩm về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT phân loại chi tiết theo từng điều luật Trang 157
Bảng 4 Tình hình áp dụng loại và mức hình phạt đối với bị cáo bị xét xử về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT Trang 160
Bảng 5 Số lượng bị cáo là người nước ngoài bị xét xử sơ thẩm về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT Trang 162
Phụ lục 1 Bảng so sánh giữa các văn bản pháp luật quốc tế về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT Phần phụ lục
Phụ lục 2 Bảng tần số sử dụng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu nạn (theo Thông tư 19/2013/TT-BTTTT) Phần phụ lục
  • Hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân: Luận án xác định 3 nhóm nguyên nhân chính gây khó khăn trong áp dụng luật:

    1. Nguyên nhân từ quy định pháp luật: Một số điều luật quy định tình tiết định khung chưa cụ thể, còn có sự giao thoa, vướng mắc trong định tội danh (đặc biệt giữa Điều 290 về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản với Điều 173 về tội trộm cắp tài sản và Điều 174 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
    2. Nguyên nhân từ văn bản giải thích, hướng dẫn: Cơ quan có thẩm quyền chậm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS năm 2015 đối với các tội danh kỹ thuật cao.
    3. Nguyên nhân từ công tác tổ chức thực hiện: Trình độ nghiệp vụ về CNTT của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật giám định kỹ thuật số, thu thập chứng cứ điện tử chưa đáp ứng yêu cầu; hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm xuyên quốc gia còn gặp rào cản.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ:

    1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định của Luật hình sự: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong BLHS năm 2015 nhằm phân định rõ ranh giới tội phạm và vi phạm hành chính, làm rõ dấu hiệu loại trừ giữa Điều 290 với các tội xâm phạm sở hữu truyền thống.
    2. Nhóm giải pháp về giải thích, hướng dẫn áp dụng: Ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hoặc Thông tư liên tịch về xử lý vật chứng, thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử, giải thích các thuật ngữ chuyên môn kỹ thuật.
    3. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: Tăng cường đào tạo chuyên môn công nghệ thông tin cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán; đầu tư phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác giám định số; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong tương trợ tư pháp hình sự đối với tội phạm mạng.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ luật học về nhóm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT theo Luật hình sự Việt Nam. Luận án đã chuẩn hóa khái niệm tội phạm CNTT, MVT (bao gồm cả hành vi sử dụng và lạm dụng CNTT, MVT), xác lập 5 đặc điểm pháp lý hình sự đặc trưng của nhóm tội và làm rõ hệ thống khách thể bảo vệ trong luật hình sự thực định.
  • Về mặt lập pháp và so sánh luật: Luận án phân tích chi tiết quá trình lập pháp qua các thời kỳ, làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý mới của các điều luật từ Điều 285 đến Điều 294 BLHS năm 2015; so sánh, đối chiếu mức độ tương thích của quy định hình sự Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế như Công ước Budapest 2001 và Luật mẫu 2002 của Khối thịnh vượng chung.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án tổng kết thực tiễn 12 năm xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án nhân dân (445 vụ án với 933 bị cáo giai đoạn 2009 - 2020), chỉ rõ các vướng mắc thực tế trong định tội danh, phân hóa trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt. Trên cơ sở đó, luận án xây dựng hệ thống 3 nhóm giải pháp thực thi có căn cứ khoa học từ sửa đổi văn bản luật, ban hành hướng dẫn áp dụng đến tổ chức thi hành pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm từ năm 2009 đến năm 2020 của Tòa án nhân dân, chưa bao quát sâu số liệu xét xử ở các cấp phúc thẩm hay giai đoạn điều tra, truy tố độc lập của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.
    • Phụ lục 2 về Bảng tần số vô tuyến điện kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BTTTT chưa được trích dẫn và phân tích sâu trong mối liên hệ trực tiếp với các vụ án cụ thể tại phần nội dung.
    • Các phân tích về dấu hiệu loại trừ của Điều 290 trong tương quan với Điều 173 và Điều 174 BLHS cần được tiếp tục luận giải chi tiết hơn qua các tình huống thực tiễn phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đi sâu nghiên cứu cơ chế tố tụng đối với chứng cứ điện tử và quy trình thu thập dữ liệu số trong tố tụng hình sự.
    • Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để mở rộng quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.
    • Nghiên cứu các giải pháp tăng cường tương trợ tư pháp quốc tế và dẫn độ tội phạm mạng hoạt động xuyên quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định tại Mục 2 Chương XXI BLHS năm 2015; tham khảo khi xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành luật.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra): Là tài liệu tham khảo trong việc áp dụng thống nhất các dấu hiệu định tội, giải quyết xung đột pháp luật giữa Điều 290 với các tội xâm phạm sở hữu truyền thống, xác định hình phạt và xử lý đối tượng phạm tội là người nước ngoài.
  • Đối với hoạt động nghiên cứu và đào tạo luật học: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự trong nghiên cứu lý luận tội phạm công nghệ cao và so sánh luật hình sự quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được tác giả xác định như thế nào trong luận án?
Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự sử dụng hoặc lạm dụng CNTT, MVT thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử và dữ liệu điện tử.

2. Thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân giai đoạn 2009 - 2020 ghi nhận số lượng vụ án và bị cáo như thế nào?
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao được luận án tổng hợp tại Bảng 1 (trang 154), trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2020, Tòa án nhân dân các cấp trên toàn quốc đã xét xử sơ thẩm 445 vụ án với 933 bị cáo phạm tội trong lĩnh vực CNTT, MVT.

3. BLHS năm 2015 đã bổ sung những tội danh hoàn toàn mới nào trong lĩnh vực CNTT, MVT so với trước đây?
BLHS năm 2015 đã bổ sung 4 tội danh mới tại Mục 2 Chương XXI, bao gồm: Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285); Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (Điều 291); Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (Điều 293); Tội cố ý gây nhiễu có hại (Điều 294).

4. Luận án chỉ ra những nhóm nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử?
Luận án chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân: (1) Tồn tại, bất cập trong chính quy định của Luật hình sự (dấu hiệu định khung chưa rõ, ranh giới định tội danh giữa Điều 290 với Điều 173, 174 còn chồng lấn); (2) Sự chậm trễ, thiếu hụt các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng luật của cơ quan có thẩm quyền; (3) Hạn chế trong công tác tổ chức thực hiện (năng lực kỹ thuật của cán bộ tố tụng, thiếu phương tiện giám định kỹ thuật số, rào cản tương trợ tư pháp quốc tế).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp: (1) Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của Luật hình sự; (2) Nhóm giải pháp về giải thích, hướng dẫn áp dụng quy định của Luật hình sự; (3) Nhóm giải pháp về hoàn thiện, đổi mới công tác tổ chức thực hiện quy định của Luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quý Khuyến là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT dưới góc độ Luật hình sự và Tố tụng hình sự tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các vấn đề lý luận, phân tích lịch sử lập pháp và các cấu thành tội phạm theo BLHS năm 2015 trong sự đối sánh với các chuẩn mực pháp luật quốc tế. Dựa trên số liệu tổng kết 445 vụ án với 933 bị cáo bị xét xử sơ thẩm trong giai đoạn 2009 - 2020, luận án đã xác định các vướng mắc thực tiễn và đề xuất 3 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Toàn thể 7/7 thành viên Hội đồng chấm luận án cấp Trường đã bỏ phiếu tán thành thông qua kết quả nghiên cứu của luận án.