Chương 1. Những vẫn để chung vé tôi pham trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, Chương 2. Quy định của Luật hình sự Việt Nam vẻ tội phạm trong lin 'vực công nghệ thông tin, mang viễn thông. Thực tiến áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dung quy định của Luật hình sự Việt Nam vé tôi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, ul PHAN TONG QUAN VE VAN BE NGHIÊN CUU 1.
Tinh hình nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mang viễn thông, 111. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, lĩnh vực CNTT, MVT mới chỉ được ứng dụng phổ biến vào đầu những năm 90 ola thé kỹ XX. Do đó, việc nghiên cứu vẻ tôi phạm. trong lĩnh vực CNTT, MVT cũng chỉ được quan tâm nghiên cứu sau đó, nhưng không nhiêu.
Đến khí BLHS năm 1999 quy định về tội phạm trong Tĩnh vực CNTT, MVT tại Điều 2! Điển 225 va Điều 226, số lượng nghiên cứu vé tội pham này mới tăng lên đáng kể. Cho đến nay, các nghiên cứu này tập trùng ỡ một số chủ để như. (1) nghiên cứu những van để lý luận vẻ tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT; (2) phân tích, bình luận các quy định của BLHS vẻ tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT, (3) phân tích những bắt cập trong thực tiến áp dung quy đính của BLHS vẻ tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT va để xuất, kiến nghị phương án khắc phục, (4) nghiên cứu vẻ. các văn bản quốc tế, cũng như kinh nghiệm của các nước vẻ tội pham trong nh vực CNTT, MVT.
Khai niệm tội pham trong lĩnh vực CNTT, MVT la chủ đề nghiên cứu được quan tâm nhất từ trước đến nay. Bởi vì tội pham trong lĩnh vực CNTT, MVT là tôi pham mới nên khái niệm của nó cân phải được nghiên cứu 16 trước tiên Nội dung các nghiên cứu về khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT ở Việt Nam được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu khi mới xuất hiện, tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được hiểu là hành vi sử dung CNTT, MVT để tân công môi trường không. gian mang Trong đó, CNTT, MVT chính 1a mục tiêu tn công của tôi phạm.
Lúc này tôi pham trong linh vực CNTT, MVT có thể được gọi bằng các thuật 1 ngữ khác nhau như tội phạm may tinh, tôi pham vi tính, tôi pham mang. Tuy nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là coi CNT, MVT là mục tiêu tin công Quan niệm v tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT như vậy thưởng được goi 1 tội pham trong lĩnh vực CNTT, MVT theo nghĩa hep. Quan niêm nay được thể hiện trong các bai viết của các tác giả Trần Cảnh Hưng, Dương Tuyết Miên va Nguyễn Ngoc Khanh. Theo tác giả Trần Cảnh Hưng, tôi phạm máy tính được hiểu là “các hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự hoat đông của máp tính, mang máy tính, các thiét bị ngoại vi.
cơ sỡ ale liên, các qua trình điều kiiễn dua trên sư hoạt động của các thiết bị tin học nhằm mục. ich pha hoại, lừa déo, che dẫu, đánh cắp thông tin? Theo định nghĩa này, tôi phạm máy tính có hai đặc trưng cơ ban: (1) người pham tôi sử dung máy tính, mang máy tính, các thiết bi ngoại vi, thiết bi tin học để thực hiện tội phạm, (2) mục đích pham tội là để "phá hoại, lửa do, che đâu, đánh cắp thông tin”, Cũng theo xu hướng nay, tác giã Dương Tuyết Mién và Nguyễn Ngọc Khanh khi bản vé khái niệm "tội pham máy tính” cho rằng, khái niêm. nay thưởng được nghiên cứu dưới hai góc độ, theo nghĩa rông va theo nghĩa hẹp. Tôi phạm vi tính theo nghĩa réng bao gém tắt cả các tôi pham liên quan đến máy tính, còn theo ngiĩa hep bao gồm các hanh vi sao chép, lầy cấp, pha hủy, lam hư hồng, thay đổi dữ liệu, cn trở, khai thác trai phép dich vụ vi tính.
Đẳng thời các tác gi cũng nhên định “da số các chuyên gia khi bản vé tôi pham vi tính thi chỉ dé cập tới tội phạm vi tính theo ngiĩa hẹp”. Có thé thấy, khái niêm tội pham máy tinh mã các tác giã trên đưa ra chính lả một trong những dang đặc trưng nhất của tôi phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT. Teme Trân Cảnh Hưng (2003), “Mat sổ win để lý luận và thực tấn vi ôi phạm may tink”, Tp chí im sất 81/2003, tr 26 * Xem: Dương Tuyết Miễn, Nguyễn Ngọc Khanh (2000), “Tôi pham vi tỉnh”, Tạp eli Tòa din nhdn dn, 28512000, tr18 13 Khai niêm tôi pham trong lĩnh vực CNTT, MVT theo nghĩa hep là đúng, nhưng chưa đủ. Bai vì khi CNTT, MVT được ứng dung rông rồi trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện su hướng phạm tội mới.
Trong đó người pham tôi sẽ dùng CNTT, MVT làm công cụ, phương tiên để thực hiền các tôi phạm khác. Do vay, cần phải mỡ réng khái niém tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT theo nghĩa hep đã dé cập ở trên. Giai đoạn thứ hai, khải niêm tối phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được mở rộng pham vi. Theo đó, tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là tội pham có liên quan đến CNTT, MVT với vai trò lả mục đích phạm tôi va công cu, phương tiên pham tôi.
Hẳu hết các nghiên cứu sau này vé khái niệm tô pham trong lĩnh vực CNTT, MVT, ở mức đô khác nhau đều theo zu hướng, nảy. Chúng ta có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Vé sách chuyên khảo có cuốn “Tôi phạm trong lữnh vực công nghề hông tin” của TS. Phạm Văn Lợi chủ biên (NXB. Tư pháp, 2007) vả cuén “Tội phạm trong lĩnh vực buat chinh - viễn thông và giải pháp phòng ngừa đâm tranh” của Viện chiên lược va Khoa học công an (NXB.
Luận văn thạc sỹ có các luên văn “Cúc tội pham trong lĩnh vực tin học theo Ludt hinh se Việt Nam” của Th5. Trân Thi Hồng Lê (Luận văn thạc sỹ luật học, khoa Luật, ĐHQG Ha Nôi, năm 2009) và “Tội pham công nghệ Thông tin trong Bộ luật hình sự Việt Non của ThŠ Trần Thanh Thao (Luân văn thạc sỹ luật hoc, Trường đại học luật thành phô Hỗ Chi Minh, năm 2013) Bai nghiên cứu đăng trên tap chỉ chuyên ngảnh có: *Đặc điểm và các dang hành ví cơ bẩn cũa tôi pham tia học," của tác giã Nguyễn Mạnh Toàn. đăng trên Tạp chi Nha nước và Pháp luét, số 3/2002, bài viết "Khái niêm và cặc điểm cũa tôi pham công nghệ thông tia- Sự khác nhan giữa tôi phạm công ghê thông tin và tội pham thông thường ” của tác giả Đăng Trung Hà đăng, trên Tap chỉ Dân chủ và Pháp luật, số 3/2009, bai viết “Tôi phạm máy tỉnh - Khai niệm, đặc trưng vả một sô giải pháp phòng, chẳng”, của tác giả Nguyễn. Hoa Binh đăng trên Tạp chi Công am niên dân, thang 8/2003.
‘Theo các nghiền cứu trên, tội pham trong lĩnh vực CNTT, MVT là tôi pham có liên quan đến CNTT, MVT với những vai tro khác nhau. Trong đó, CNTT, MVT thường liên quan đến tội pham với 4 vai trò: (1) CNTT, MVT la mục đích của tôi pham, (2) CNTT, MVT là công cụ, phương tiện phạm tôi, () CNTT, MVT là chủ thể của tội pham; (4) CNTT, MVT la vật trung gian, cất giấu, lưu trữ dầu vét tội pham”. Cac tác giả như Nguyễn Mạnh Toàn, Dang Trung Hà tiếp cận khái niêm "tội pham tin hoc” hoặc "tội phạm công nghệ thông tin” cũng cho rằng tội pham máy tính là tội pham có liên quan đền máy tính với vai trò mục đích của tôi pham, công cụ phạm tôi va vật trung gian để cất giấu, lưu giữ những thứ đã chiêm đoạt được Theo cách tiếp cân này, khái niêm tội pham trong lĩnh vực CNTT, MMVT có pham vi rất rông, tuỷ theo muc đích va góc đô nghiên cứu. Chính vì vậy dẫn đến việc các tac giả xác định phạm vi khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT không thống nhất Có trường hop xác định phạm vi tôi pham này quá rông như trong cuốn sách chuyên khảo "Tối piưmn trong iti vực bun chính - viễn thông và giải pháp phòng ngừa, đẫu tranh” của Viện.
chiến lược và Khoa hoc công an. Các tắc giả cuỗn sách nay cho rằng, từ trước. dén nay chưa cỏ khái niêm chính thức vẻ loại tôi phạm nay, ma chỉ liệt kê một số hành vi vi phạm phải bị xử lý bằng pháp luật trong các văn bản pháp luật Xem: Pham Văn Loi (2007), Tét pham trong inh vực cổng nghề thông tin, NEB. Tư nhấp tr28 Xem: Nguyễn Manh Toàn “Đặc đm và các dang hành vĩ cơ bản oi tội phạm tín học", Tap ct Ni nước và Pháp uất, sỗ 372002, 30 5 khác nhau”.
Thông qua việc xc đính những hành vi bi pháp luật xử lý trong Tĩnh vực này trong các văn ban pháp luật tử năm 1945 đến khi có BLHS năm. 1999, tác gia khẳng định: “các hành vi vi phạm các điền cấm trong công tác in If và sử dung các dich vụ buat chính - viễn thông do Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền đặt ra là các hành vi của tội phạm trong lĩnh vực bưai chinh- viễn thông "`. Do dé, tôi phạm trong lĩnh vực bưu chính - én thông, được quy đính trong BLHS năm 1999 bao gồm tội phản bội Tổ quốc @iéu 78), tôi gián điệp (Điều 80), Tôi xâm phạm bi mt an toàn thư tín của người khác (Điều 125), Tôi sử dung trái phép thông tin trên mạng va trong máy tính (Điễu 226), Tội trộm cắp cước viễn thông (Điều 138), Tội phá hủy công trình, phương tiên quan trọng vẻ an ninh quốc gia (Điêu 231), Tôi võ ý làm 16 tải liệu bi mất trong công tác (Điểu 287), Tôi lợi dung chức vụ và quyển hạn trong khi thi hảnh công vụ (Điền 281), Tội tham 6 (Điều 278), Tội tang trữ, van chuyi mua bán trái phép chất ma túy (Điều 195)”. Có thể thấy, các tác giã này đã xác định đã xác định tội phạm trong Tĩnh vực viễn thông quá rông.
Nhu một sổ tác giả đã nhân xét, cứ theo cách xác định này thì bat kể tôi nào cũng có thé được coi lả tội phạm trong lĩnh vực viễn thông. Co thé thấy việc mỡ rộng khái niêm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT là can thiết, phủ hợp với thực tiễn phát triển của tôi phạm nay. Các nghiên cứu đã chỉ ra đặc trưng quan trong của tôi phạm này là sự liên quan đến CNTT, MVT ở các vai tro khác nhau. Đây là điểm thông nhất quan trong để xác đính Khải niêm tôi phạm này.
Tuy nhiên, tôi phạm liên quan đến CNTT, MVT ở mức độ nào thì được coi là tôi pham trong lĩnh vực CNTT, ‘MVT van chưa có sự thông nhất.