phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương, gồm: * Chƣơng 1: Khái quát an ninh mạng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chương này giới thiệu: Tổng quan về không gian mạng khái quát về an ninh mạng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. * Chƣơng 2: Vấn đề an ninh mạng trong quan hệ quốc tế thế giới. Chương này trình bày về: Vấn đề xung đột quốc tế trong an ninh mạng, vấn đề Hợp tác quốc tế trong an ninh mạng và kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo đảm an ninh mạng * Chƣơng 3: Việt Nam với vấn đề an ninh mạng, trong đó xem xét về thực trạng và vấn đề mạng, an toàn thông tin mạng của Việt Nam, cơ sở pháp lý và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý Nhà nước, cuối cùng là một số khuyến nghị.
7 z CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ AN NINH MẠNG VÀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƢ 1. Tổng quan về không gian mạng và an ninh mạng 1. Khái niệm không gian mạng Trong bối cảnh bùng nổ cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm cho biên giới địa lý giữa các quốc gia trở nên "mềm” hơn, dễ vượt qua hơn. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như y tế, giáo dục, du lịch, kinh tế, an ninh, quốc phòng… việc công nghệ hóa các hoạt động thông qua không gian mạng đang được triển khai rộng rãi với xu hướng chính phủ điện tử đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Mạng công nghệ thông tin đã và đang trở thành một phần không thể thiếu đối với cuộc sống con người hiện nay, nó đã đem lại nhiều lợi ích và giá trị quan trọng. Tuy nhiên, không gian mạng luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro mất an toàn cho người dùng, cũng như các đối tượng tham gia hoạt động trong không gian mạng. Khái niệm không gian mạng ban đầu được sử dụng trong văn hóa đại chúng ở các tác phẩm khoa học viễn tưởng. Nhưng sau này khi công nghệ thông tin phát triển kèm theo các nguy cơ thì nó được chính thức sử dụng bởi những nhà phát triển mạng viễn thông, các nhà lãnh đạo, những chính trị gia, những người đứng đầu các tập đoàn lớn,.
để mô tả về một môi trường của các công nghệ thuộc về lĩnh vực điện tử - viễn thông mang tính chất toàn cầu. Khái niệm về không gian mạng trở nên phổ biến hơn vào những năm 1990 khi thế giới bắt đầu chứng kiến sự bùng nổ của mạng Internet cũng như 8 z sự phát triển vượt bậc của công nghệ bán dẫn, kĩ thuật số, hệ thống điện toán, thông tin liên lạc và đây cũng chính là thành tựu quan trọng nhất trong thời kỳ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Năm 2010, lần đầu tiên Hoa Kỳ đã chính thức công nhận không gian mạng là một lãnh thổ mới, có tầm quan trọng ngang hàng như các lãnh thổ khác trong chiến tranh như trên bộ, trên không, trên biển và trên vũ trụ. Không gian mạng là không gian do con người tạo ra hay còn gọi là không gian ảo, đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của mỗi quốc gia, với các xa lộ thông tin toàn cầu, hoàn toàn không còn biên giới ngăn cách.
Khi tham gia vào không gian mạng thì mọi thành viên đều thuộc về không gian mạng mà thành viên đó ở bất kỳ nơi nào trên trái đất. Không gian ảo này là nơi các máy tính trao đổi dữ liệu, thông tin. Ngoài ra, không gian mạng cũng dùng để chỉ một mạng lưới toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phụ thuộc lẫn nhau, mạng viễn thông và các hệ thống máy tính. Như vậy có thể hiểu, không gian mạng là không gian điện từ trường do con người tạo ra, trong đó việc truyền tải gồm các đầu - cuối, máy tính, thiết bị mạng và con người.
Thông qua đó tiến hành tính toán, thông tin để thực hiện các hoạt động, bao gồm các hoạt động đặc biệt. Trong không gian mạng, người, máy, vật liên kết tương tác với nhau có thể sinh ra các loại thông tin ảnh hưởng tới cuộc sống con người, gồm nội dung, thương mại, kiểm soát. Trong không gian mạng, không đặt chủ quyền mạng riêng biệt với chủ quyền quốc gia, nếu không sẽ ảnh hưởng tới việc tự do lưu chuyển thông tin. Tự do lưu chuyển thông tin phải tuân thủ theo một trình tự, nó được quyết định bởi chính sách công của Chính phủ các nước, chứ không phải quyết định bỏ chủ quyền.
9 z Hình 1: Chủ quyền quốc gia (Nguồn: Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin Truyền thông) Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia được khẳng định dựa trên 4 yếu tố cơ bản đó là lãnh thổ, dân số, tài nguyên và chính quyền thì chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cũng bao hàm 4 yếu tố cơ bản tương ứng đó là các hệ thống thông tin (lãnh thổ), chủ thể các hoạt động trên mạng (dân số), số liệu - đối tượng thao tác trên mạng - biểu đạt tín hiệu theo ý đồ mà con người có thể lý giải được (tài nguyên), quy tắc xử lý truyền số liệu (chính quyền). Và 4 quyền lợi cơ bản của quốc gia là bình đẳng, độc lập, tự vệ và quản trị thì quyền lợi của không gian mạng cũng gồm: Quyền bình đẳng, quyền độc lập, quyền tự vệ, quyền quản trị, trong đó: - Quyền bình đẳng: Các nước có quyền bình đẳng tham dự quản lý mạng Internet quốc tế. - Quyền độc lập: Nước khác không được can dự vào việc vận hành hạ tầng cơ sở thông tin thuộc lãnh thổ nước khác.
- Quyền tự vệ: Nhà nước dùng quyền lực cũng như năng lực quân sự của mình để bảo vệ không gian mạng của quốc gia không bị xâm phạm. - Quyền quản trị: Truyền tải số liệu cùng các hoạt động xử lý nó thuộc quyền tư pháp và quản lý hành chính của quốc gia. 10 z Chủ quyền mạng là tồn tại khách quan, không thể thay đổi do ý chí của con người, mà nó là của quốc gia. Chủ quyền không gian mạng của một quốc gia được xây dựng trên cơ sở các hệ thống thông tin thuộc quyền quản trị của quốc gia đó gọi là lãnh thổ mạng, biên giới là nơi tập hợp các thiết bị mạng của nước đó kết nối trực tiếp với thiết bị mạng của nước khác, bảo vệ các hoạt động mạng đặc trưng ảo đối với dữ liệu.
Cụ thể là giữa các quốc gia không được xâm phạm vào không gian mạng của nhau, phải tôn trọng lẫn nhau về chủ quyền không gian mạng, không can thiệp vào việc quản lý không gian mạng của nước khác, và chủ quyền quốc gia về không gian mạng của các nước là bình đẳng trong hoạt động quản lý không gian mạng quốc tế. Không gian mạng hình thành từ sự kết hợp của những công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh,…đã làm thay đổi thế giới, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, mọi hệ thống sản xuất, quản lý và điều hành của các quốc gia. Tuy nhiên, khả năng kết nối vô hạn, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và bản chất xã hội của không gian mạng đang đặt ra những thách thức an ninh mang tới toàn cầu như: chiến tranh mạng, khủng bố mạng, tội phạm mạng, nhiễu loạn thông tin mạng… Bối cảnh trên đòi hỏi cộng đồng quốc tế tăng cường hợp tác, chung tay xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh, vì sự phát triển của nhân loại như Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã khẳng định trong cuốn sách “Không gian mạng - Tương lai và hành động”: Không gian mạng là “lõi” của thế giới kết nối. Thế giới kết nối làm cho con người gần nhau hơn, hưởng lợi và chấp nhận thách thức nhiều hơn.
Tận dụng tốt mọi cơ hội, thế giới kết nối sẽ mang lại sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội cũng như nền hòa bình trên phạm vi toàn cầu; ngược lại, nếu không giải quyết tốt các thách thức sẽ dẫn đến các hiểm họa khó lường. 11 z Từ những phân tích trên, “không gian mạng” được hiểu một cách rất trừu tượng, dường như rất phức tạp. Tuy nhiên, theo Luật An ninh mạng của Việt Nam năm 2018 thì “không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian”[1]. Luận văn sẽ sử dụng khái niệm này.
Khái niệm an ninh mạng An ninh (security), hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất “là tình trạng được bảo vệ khỏi sự nguy hiểm và mất mát” còn theo từ điển quân sự Việt Nam thì “An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực trong hoạt động xã hội hoặc của an toàn xã hội” 2. Khái niệm an ninh trong chính trị quốc tế thường gắn liền với bối cảnh của các cuộc xung đột vũ trang như chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chiến tranh thế giới lần thứ hai, chiến tranh lạnh. Trong bối cảnh đó, an ninh được hiểu như khả năng của một quốc gia có thể ngăn chặn được các cuộc xâm lược vũ trang đến từ bên ngoài. Mạng (network) là “một loạt các máy tính và thiết bị khác kết nối với nhau để qua đó có thể chia sẻ thông tin và chia sẻ việc sử dụng các thiết bị máy móc đó”.
Mạng được phân loại theo quy mô và cách thức kết nối gồm mạng LAN (Local Area Network) là mạng kết nối nội bộ trong một hệ thống; mạng WAN (Wide Area Network) là mạng kết nối nhiều hệ thống mạng và mạng INTERNET (International Computer Network) là mạng kết nối các máy tính quốc tế mà ngày nay mạng này đã được mở rộng trên toàn thế giới còn được gọi là mạng toàn cầu. 1 Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14, Tr.