Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các khái niệm Khái niệm hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung. Trong đó, chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể đóng một vai trò có thể nhận thấy được trong quan hệ quốc tế.
Các chủ thể trong mối quan hệ này có mục đích tham gia, có tham gia vào, có khả năng thực hiện và có ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế [10,tr. Do Bộ Thông tin và Truyền thông được Chính phủ giao nhiệm vụ phụ trách các hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền thông trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nên trong hầu hết các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực này, Bộ cũng là đại diện quốc gia thực hiện các hoạt động hợp tác đó. Với các hoạt động hợp tác của một lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật, các chủ thể hợp tác có thể là cá nhân chuyên gia, nhóm người đại diện cho tổ chức chính phủ, phi chính phủ, doanh nghiệp của các quốc gia khác nhau. Và tại Bộ Thông tin và Truyền thông, chủ thể quan hệ quốc tế có thể là các cán bộ hoặc đơn vị thuộc Bộ được cử đại diện cho Bộ tham gia các quan hệ hợp tác với nước ngoài.
Do Bộ có vai trò đại diện quốc gia trong các hợp tác quốc tế về thông tin và truyền thông nên các cá nhân, đơn vị thuộc Bộ được cử tham gia phối hợp quốc tế cũng là đại diện cho Việt Nam trong các hoạt động hợp tác này. Vì vậy, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn của Bộ Thông tin và Truyền thông là sự phối hợp giữa các cá nhân, tổ chức đại diện cho Bộ và cũng là đại diện cho Việt Nam với các cá nhân, tổ chức nước ngoài để cùng đạt một mục đích chung trong lĩnh vực và vấn đề liên quan. 14 z Khái niệm an toàn mạng “An toàn mạng” là thuật ngữ mới ra đời tại Việt Nam sau sự xuất hiện của Internet tại Việt Nam, là một thuật ngữ được dịch từ gốc từ tiếng Anh, do đó, để hiểu và có thể nghiên cứu đầy đủ về vấn đề an toàn mạng, cần phải hiểu từ gốc tiếng Anh của thuật ngữ này. Đó là từ “network security”.
“An toàn” (security) là “tình trạng được bảo vệ hoặc hoạt động bảo vệ”. Tuy nhiên trong lĩnh vực CNTT và truyền thông từ “security” còn có thể được dịch sang tiếng Việt là “an ninh” hay “bảo mật”. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, các từ: “an toàn”, “an ninh”, “bảo mật” mặc dù có phần khác nhau về nghĩa tiếng Việt, nhưng trong lĩnh vực công nghệ các khái niệm này được dùng để chỉ cùng một khái niệm. “Mạng” (network) là “một loạt các máy tính và thiết bị khác kết nối với nhau để qua đó có thể chia sẻ thông tin và chia sẻ việc sử dụng các thiết bị máy móc đó”.
Mạng được phân loại theo quy mô và cách thức kết nối gồm có LAN (local area network) là mạng kết nối nội bộ trong một hệ thống; WAN (wide area network) là mạng kết nối nhiều hệ thống mạng và Internet (international computer network) là mạng kết nối các máy tính quốc tế mà ngày nay mạng này đã mở rộng trên toàn thế giới. Ngoài ra, “an toàn mạng” trong tiếng Việt còn có thể được dịch từ thuật ngữ “cyber-security” của tiếng Anh. Do tiếp đầu ngữ “cyber-” có ý nghĩa gần giống với từ “network” là “được kết nối với các hệ thống truyền thông điện tử, đặc biệt là mạng Internet”. Một số thuật ngữ tiếng Anh liên quan đến an toàn mạng trong nghiên cứu này là: tội phạm mạng (cybercrime); không gian mạng (cyberspace); chiến tranh mạng (cyberwar) [23].
Thông tin truyền trên mạng thường ở dạng tín hiệu số hóa (digital) và bảo vệ mạng cũng là để bảo vệ các thông tin được truyền trên đó, nên các thuật ngữ “an toàn thông tin”, “bảo mật thông tin”, “an toàn thông tin số”, 15 z “an ninh thông tin”, “an ninh mạng”, “an toàn an ninh mạng” được dùng phổ biến tại Việt Nam để chỉ cùng một khái niệm như “an toàn mạng”. Như vậy, “an toàn mạng” là tình trạng được bảo vệ hoặc hoạt động bảo vệ các máy tính và thiết bị được kết nối, bảo vệ việc truyền nhận thông tin thông qua các kết nối đó. Xét chi tiết về khía cạnh kỹ thuật, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) định nghĩa khái niệm an toàn mạng như sau: An toàn mạng là tập hợp các công cụ, chính sách, khái niệm về an toàn, bảo vệ an ninh, các hướng dẫn, các tiếp cận quản lý rủi ro, các hành động, hoạt động đào tạo, thực tiễn, bảo hành và công nghệ mà có thể sử dụng để bảo vệ môi trường mạng và tài sản của tổ chức, cá nhân người sử dụng. Tài sản của tổ chức, cá nhân người sử dụng gồm các thiết bị máy tính được kết nối, nhân sự, cơ sở hạ tầng, các ứng dụng, các dịch vụ, các hệ thống viễn thông và toàn bộ những thông tin được lưu trữ hoặc/và truyền phát trong môi trường mạng.
An toàn mạng nhằm đảm bảo có được và duy trì việc sở hữu an toàn các tài sản của tổ chức, cá nhân người dùng trước các rủi ro an toàn trong môi trường mạng. Mục đích an toàn nói chung gồm: tính sẵn sàng; tính toàn vẹn, mà có thể gồm cả tính xác thực và tính liên tục; tính bảo mật [35]. Khái niệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng Từ những phân tích trên, Luận văn này định nghĩa khái niệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng là: Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn mạng (international cooperation on cyber-security) là việc cá nhân, tổ chức của hai hay nhiều nước cùng phối hợp để bảo vệ các máy tính và thiết bị được kết nối, bảo vệ việc truyền - nhận thông tin thông qua các kết nối đó của cá nhân, tổ chức, một hay nhiều quốc gia, trước các hoạt động truy cập, sử dụng, từ chối dịch vụ hay sửa đổi bất hợp pháp nhằm đảm bảo sự toàn vẹn, bảo mật, tính sẵn sàng, xác thực và thông suốt của các thông tin được truyền - nhận. Các loại hình hợp tác quốc tế về an toàn mạng 1.
Phân loại theo số lượng chủ thể Hợp tác song phương Là hợp tác giữa hai chủ thể quan hệ quốc tế. Các chủ thể có thể là hai quốc gia, các cá nhân, tổ chức của hai quốc gia phối hợp với nhau trong bất cứ hoạt động nào liên quan lĩnh vực an toàn mạng [10,tr. Hợp tác quốc tế song phương trong lĩnh vực an toàn mạng tại Việt Nam nói chung và Bộ Thông tin và Truyền thông nói riêng thường ở ba hình thức sau: Việt Nam và nước ngoài cộng tác chia sẻ thông tin, phối hợp hành động; Nước ngoài hỗ trợ cho phía Việt Nam; Việt Nam hỗ trợ nước bạn anh em. Luận văn mô hình hóa phân loại HTQT theo số lượng chủ thể như sau: Việt Nam Song phương (Bộ TTTT) Đa phương Quốc Tổ chức gia khác quốc tế (cá nhân, tổ (cá nhân, tổ chức một chức nhiều nước) nước) Hình 1.1: Phân loại HTQT theo số lượng chủ thể tham gia Hợp tác đa phương Là quan hệ hợp tác giữa 3 chủ thể quan hệ quốc tế trở lên.
Các chủ thể là quốc gia, cá nhân hay tổ chức [10,tr. Quan hệ hợp tác này thường là các quan hệ hợp tác trong các hiệp hội, diễn đàn, tổ chức quốc tế phạm vi khu vực hoặc thế giới, vì mục đích xây dựng một môi trường mạng khu vực và trên thế giới an toàn hơn. 17 z Các quan hệ hợp tác song phương và đa phương về an toàn mạng tại Việt Nam nói chung và của Bộ Thông tin và Truyền thông nói riêng thường đan xen nhau do mỗi nước trong khu vực đều tham gia vào nhiều nhóm, hiệp hội khác nhau. Hoạt động hợp tác song phương do vậy cũng có thể nằm trong chương trình hành động của các hợp tác đa phương.
Hợp tác đa phương và song phương có mối quan hệ qua lại với nhau. Hợp tác đa phương góp phần tạo tiền đề cho hợp tác song phương và hợp tác song phương tạo nhiều yếu tố thuận lợi cho hoạt động đa phương. Phân loại theo nội dung hoạt động Hợp tác tư vấn xây dựng chính sách là các hợp tác thuộc các dự án tư vấn xây dựng chính sách an toàn mạng giữa các nước và Việt Nam mà đơn vị chủ trì thực hiện dự án là các viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ngành chức năng của chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế. Hợp tác trong tư vấn, xây dựng chính sách về an toàn mạng là hoạt động nổi bật trong các hợp tác giữa Việt Nam và các nước phát triển về CNTT trên thế giới hiện nay.
Việt Nam đã nhận được các báo cáo nghiên cứu và tư vấn xây dựng chính sách về an toàn mạng từ các chuyên gia, tổ chức hàng đầu trên thế giới. Các báo cáo này đã giúp Việt Nam tham khảo để đưa ra các định hướng và quyết sách kịp thời trong xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về an toàn mạng thời gian qua. Hợp tác kỹ thuật là các hợp tác liên quan đến các nghiệp vụ kỹ thuật về an toàn mạng giữa các kỹ thuật viên của các nước, các đơn vị xây dựng và quản lý hệ thống kỹ thuật mạng của các nước. Các hoạt động kỹ thuật là yếu tố quyết định đối với việc đảm bảo hệ thống mạng an toàn.
Máy tính, các thiết bị mạng, việc kết nối mạng, các phần mềm cài đặt cũng như các nghiệp vụ để vận hành cho các hệ thống này hoạt động là đối tượng nghiên cứu và phát triển số một trong lĩnh vực an toàn mạng tại các quốc gia cũng như Việt Nam. 18 z Các nội dung kỹ thuật trong hoạt động hợp tác này bao gồm: - Bảo vệ hạ tầng thông tin trọng yếu là bảo vệ các hệ thống thông tin đảm bảo sự vận hành của các hoạt động quan trọng trong xã hội như: hệ thống thanh toán ngân hàng, hệ thống điều hành bay tại các sân bay, hệ thống quản lý xuất nhập cảnh, hệ thống quản lý hàng hóa hải quan, hệ thống điều hành tàu điện ngầm, điều hành đóng mở mạng lưới điện, nước…. - Đảm bảo an toàn cho các ứng dụng CNTT là bảo vệ an toàn cho các sản phẩm, dịch vụ được phát triển nhờ CNTT được sử dụng, cài đặt trên mạng nhằm phục vụ các hoạt động xã hội của con người.