chương IoT là tương lai của mạng Internet, các thiết bị IoT đang được ứng dụng ngày càng nhiều và mở rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Với mục tiêu hướng đến kết nối các thiết bị chưa kết nối và kết nối vào mạng internet. Việc các thiết bị IoT thiết kế nhỏ gọn, năng lực xử lý hạn chế và kết nối vào internet, khả năng bảo mật hạn chế đã và đang tạo nên thách thức không nhỏ về mặt bảo mật, an toàn thông tin không chỉ cho các thiết bị IoT mà cho cả các hệ thống khác và internet. Trong nội dung của luận văn này xin đề cập đến phương pháp mã hóa đối xứng hay mã hóa khóa bí mật nhằm “nghiên cứu, thử nghiệm truyền tin bảo mật giữa các nút mạng IoT” và sử dụng hệ điều hành Contiki và công cụ mô phỏng Cooja để mô phỏng quá trình truyền tin bảo mật giữa hai nút IoT.
Luan van 15 CHƯƠNG 2: TRUYỀN TIN BẢO MẬT TRONG MẠNG IOT. Các nguy cơ tấn công mạng IoT 2. Các nguy cơ Các nguy cơ mạng IoT thường được hình thành từ các mối đe dọa và các lỗ hổng hệ thống, phần mềm. Các nguy cơ đối với mạng IoT được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí đó là tính riêng tư (Privacy), tính bảo mật (Security) và tính an toàn (Safety).
Nguy cơ mạng IoT có thể bị đe dọa bởi 3 thực thể chính sau: Nguy cơ đến từ những người dùng với mục đích xấu: Là người sở hữu thiết bị IoT có khả năng thực hiện tấn công để tìm hiểu các bí mật của nhà sản xuất, và có quyền truy cập các chức năng bị hạn chế. Bằng cách phát hiện ra các sai sót của hệ thống, người dùng xấu có thể lấy thông tin, bán bí mất cho các bên thứ 3, hoặc thậm chí tấn công vào các hệ thống tương tự. Nguy cơ đến từ các nhà sản xuất tồi: Nhà sản xuất tồi có thể lợi dụng công nghệ để thu thập dữ liệu hay thông tin về các thiết bị khác của người dùng, hoặc có thể giới thiệu một cách có chủ đích lỗ hổng để truy cập dữ liệu của người dùng và hiện thị dữ liệu cho bên thứ 3, hoặc có thể tấn công vào các thiết bị của nhà sản xuất khác trong cùng hệ thống để gây hại cho họ. Nguy cơ đến từ các đối thủ bên ngoài hệ thống: Là thực thể mà không phải là một phần của hệ thống và không có quyền truy cập vào nó.
Một đối thủ như vậy sẽ cố gắng thu thập thông tin về người dùng của hệ thống vì mục đích xấu như gây thiệt hại về tài chính và làm suy yếu độ tin cậy của người dùng, truyền dữ liệu giả mạo. Các hình thức tấn công Tấn công làm giả thiết bị: Thiết bị IoT có thể được tích hợp vào các hệ thống khác như xe hơi, công tắc bật tắt đèn, ti vi, lò nướng, và các thiết bị khác. Một số thiết bị chỉ làm việc trong một thời gian nhất định và có nhiều thời gian rỗi vì vậy nó dễ dàng bị đánh cắp nếu không để ý. Một Luan van 16 khi nó rơi vào tay kẻ xấu, kẻ tấn công có thể trộm bí mật, thao tác phần mềm, và làm giả phần cứng.
Phần cứng bị làm giả có thể được sử dụng để chèn mạo danh vào hệ thống, sử dụng vào mục đích xấu hay thiết bị hoạt động không đúng chức năng. Tấn công tiết lộ thông tin: Là hành động tiết lộ thông tin cho một thực thể không được phép xem nó. Điều này thì bao gồm tiếp xúc tình cờ, tấn công có chủ đích, vv. Kẻ tấn công có thể lấy thông tin bằng cách nghe lén trên mạng, truy cập trực tiếp vào thiết bị, hay truy cập vào thiết bị qua mạng.
Tấn công vi phạm quyền riêng tư: Kẻ tấn công có thể phỏng đoán thông tin cá nhân từ các nguồn khác như siêu dữ liệu (Meta data) và phân tích lưu lượng. Tấn công từ chối dịch vụ: Là hình thức tấn công nhằm ngăn cản người dùng hợp pháp truy cập vào hệ thống máy tính, thiết bị hoặc tài nguyên. Hệ thống phải có khả năng tiếp tục hoạt động ngay cả khi một vài hành động không mong muốn được thực hiện bởi người dùng với mục đích xấu. Loại tấn công này có thể thực hiện bằng cách đánh cắp thiết bị, thao tác phần mềm của nó, hoặc làm gián đoạn kênh truyền thông.
Tấn công giả mạo: Là hình thức lấy thông tin của người khác để có quyền truy cập vào vào dịch vụ không được phép truy cập. Các thông tin có thể bị lấy trực tiếp từ thiết bị, nghe lén trên kênh truyền hoặc giả mạo. Mức độ đặc quyền: Một kẻ giả mạo có thể cài đặt một kẻ nặc danh vào hệ thống để giả vờ làm thiết bị khác, thông qua đó có thể truy cập vào thiết bị hay dịch vụ không được cấp đặc quyền. Tiêm tín hiệu: Kẻ tấn công tiêm dữ liệu giả vào hệ thống để thay đổi dữ liệu cảm biến, như truyền các tín hiệu điện từ tới một cảm biến.
Tấn công kênh kề: dựa trên thông tin như phân tích thời gian thực hiện, tiêu thụ điện năng, phân tích lưu lượng, và phân tích tín hiệu điện của thiết bị, có thể bao hàm cả dữ liệu riêng tư và bí mật. Vấn đề truyền tin bảo mật trong mạng IoT 2. Các yêu cầu của một hệ truyền thông tin an toàn và bảo mật Tính chất của một hệ truyền tin bảo mật: Tính bảo mât: Bảo vệ thông tin, chống lại vấn đề xem trộm nội dung thông tin. Chỉ các đối tượng được cấp quyền mới được truy cập và đọc nội dung bên trong.
Tính chứng thực: Xác minh được thông tin, nguồn gốc thông tin từ bên gửi, đảm bảo thông tin không bị sửa đổi trong quá trình truyền tin nhằm ngăn chặn các hình thức tấn công sửa đổi tin, mạo danh và phát lại thông tin. Tính không từ chối: Các bên đã được xác thực không thể phủ nhận việc tham gia vào một giao dịch hợp lệ. Tính toàn vẹn: Đảm bảo thông tin không bị sửa đổi trong qua trình truyền thông tin qua mạng. Các yêu cầu bảo mật trong mạng IoT: Bảo mật và quyền riêng tư là hai yếu tố tiên quyết về mặt công nghệ và cũng là thử thách lớn nhất trong IoT.
Các yêu cầu về bảo mật được phân chia thành năm mục là: An ninh mạng (Network Security), quản lý nhận dạng (Identity Management), quyền riêng tư (Privacy) , tin cậy (Trust) và khả năng phục hồi (Resilience).[09] An ninh mạng (Network Security): các yêu cầu về bảo mật mạng bao gổm: bí mật, toàn vẹn, xác thực nguồn gốc, tính tươi mới và tính khả dụng. Tính bí mật của thông điệp đảm bảo rằng nội dung của thông điệp không ai hiểu được ngoài những người nhận mong muốn. Tính toàn vẹn đảm bảo dữ liệu trong quá trình truyền qua mạng không bị sửa đổi. Xác thực nguồn gốc dữ liệu để đảm bảo rằng một thông điệp phát đi từ một thực thể nhất định.
Luan van 18 Tính tươi mới: ngăn chặn kẻ tấn công tiêm thông tin sai lệch bằng cách ghi lại thông điệp và phát lại. Tính khả dụng (Available): Đảm bảo các thiết bị và dịch vụ có thể truy cập và vận hành bất cứ khi nào cần một cách kịp thời. Quản lý nhận dạng (Identity Management): Quản lý nhận dạng là một thử thách lớn đối với hệ thống IoT bởi mối quan hệ phức tạp giữa các thực thể (Các thiết bị, các dịch vụ, các nhà cung cấp dịch vụ, người sở hữu và người sử dụng). Các yêu cầu đối với quản lý nhận dạng bao gồm: Xác thực, ủy quyền, thu hồi và trách nhiệm.
Xác thực: Xác minh tính duy nhất và chính xác của các thiết bị truyền thông trong mạng IoT. Ủy quyền: Cho phép các thực thể đã xác thực thực hiện một số hoạt động trong hệ thống IoT. Thu hồi: Loại bỏ quyền thực hiện một hoạt động của một thực thể nhất định. Trách nhiệm: Đảm bảo rằng các hoạt động được ràng buộc rõ ràng cho các thực thể xác thực.
Quyền riêng tư (Privacy): Các yêu cầu về quyền riêng tư bao gồm dữ liệu riêng tư, ẩn danh, bút danh và không liên kết. Dữ liệu riêng tư: Quyển riêng tư là một trong những thử thách lớn đối với IoT bởi người dùng yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân của họ như thông tin về thói quen, tương tác và vị trí của họ. Ẩn danh: Một người nào đó không thể bị nhận diện như là nguồn dữ liệu hay hoạt động. Bút danh: Dùng để liên kết dữ liệu và các hoạt động thay vì một người nào đó.
Tin cậy (Trust): Tính tin cậy thể hiện ở tin cậy dữ liệu và tin cậy thực thể, ngoài ra còn một số thước đo độ tin cậy khác như tin cậy xử lý, tin cậy kết nối, tin cậy hệ thống. Luan van 19 Dữ liệu tin cậy: Dữ liệu có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có nguồn không thực sự tin cậy. Dữ liệu đáng tin cậy có thể được thu được bằng cách áp dụng các thuật toán khác nhau như tổng hợp dữ liệu hay học máy. Tin cậy thực thể: Thể hiện ở hành vi của các thực thể như các thiết bị, dịch vụ hay người dùng.
Khả năng phục hồi (Resilience): Các hệ thống IoT lớn dễ bị tấn công và gặp thất bại do sự phức tạp cùng nhiều loại phần cứng và phần mềm. Vì thế việc phát hiện tấn công, ngăn chặn, dự phòng và khôi phục là yếu tố quan trọng để duy trì sự ổn định của hệ thống IoT. Các mô hình, phương pháp truyền tin hiện nay trong IoT IEEE 802.4: Tiêu chuẩn này được thiết kết với các giao thức cơ bản nhằm hướng tới phạm vi ngắn, truyền dữ liệu thấp và tiết kiệm năng lượng. Nó được giới thiệu lần đầu năm 2003, và đã được sửa đổi và bỗ sung nhiều trong các năm qua.
Trong đó có định nghĩa về lớp vật lý PHY (Physical) và lớp kiểm soát truy cập trung bình MAC (Medium access control). Lớp MAC được cung cấp các mức bảo mật khác nhau.1: Các mức bảo mật trong tiêu chuẩn IEEE 802.4 [07] Về cơ bản thì tất cả các dịch vụ bảo mật đều dựa trên mật mã khối AES-128 với chế độ hoạt động CCM. Trong các truyền thông thì trường mức độ bảo mật lựa chọn một trong các mức bảo mật ở bảng trên. Mức 0 là không bảo mật, mức từ 1 Luan van 20 đến 3 và 5 đến 7 có nghĩa là các khung đã được bảo mật đảm tảo toàn vẹn xác thực gốc.