CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU dịch vụ vị trí phân cấp HLS về tỉ lệ yêu cầu thông tin vị trí thành công, thời gian đáp ứng… 1.3 Phạm vi đề tài Do thời gian tìm hiểu đề tài là có hạn nên luận văn xin được trình bày trong phạm vi sau: Thuật toán định tuyến theo vị trí được sử dụng trong luận văn là GPSR – Greedy Perimeter Stateless Routing, thuật toán này hoàn toàn dựa vào thông tin vị trí của node để chọn đường định tuyến ở các chế độ greedy forwarding và perimeter forwarding. Hàm hash sử dụng đơn giản và cần được tối ưu theo các môi trường triển khai thực tế. Thực hiện mô phỏng và đánh giá với quy mô mạng nhỏ, số lượng node tương đối ít vì bị giới hạn bởi khả năng hỗ trợ tính toán mô phỏng của máy tính. Cập nhật thông tin vị trí theo phương pháp gián tiếp.4 Bố cục của luận văn Luận văn được chia thành 6 chương.
Chương 2 trình bày về các khái niệm chung trong mạng MANET, các thuật toán định tuyến proactive, reactive và các thuật toán định tuyến theo theo vị trí như: DSDV, DSR, LAR, GPSR. Đồng thời cũng giới thiệu về các dịch vụ vị trí trong mạng MANET như: Homezone và GLS. Chương 3 là phần chính của luận văn được dành riêng để giới thiệu chi tiết về dịch vụ vị trí phân cấp HLS, thuật toán cho việc cập nhật và yêu cầu thông tin vị trí. Chương 4 trình bày chi tiết về các công việc triển khai thực hiện HLS và GLS với NS phiên bản 2.33, các kiểu định dạng gói dữ liệu và các công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện mô phỏng như: Bonnmotion, Perl… Chương 5 trình bày các kết quả mô phỏng được, phân tích và đánh giá dịch vụ vị trí HLS với GLS dựa trên các thông số như: tỉ lệ thành công, thời gian đáp ứng, băng thông tiêu thụ và ảnh hưởng của mật độ, vận tốc chuyển động của node.
Chương 6 là phần kết luận và hướng phát triển trong tương lai. ĐỖ HỒNG TUẤN 4 HVTH: NGUYỄN QUANG VINH CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET CHƯƠNG 2 CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET 2.1 Giới thiệu sơ lược về mạng MANET 2.1 Sự ra đời mạng MANET Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, chúng ta đang tận hưởng những ứng dụng, tiện ích của công nghệ thông tin truyền thông đem lại, mà cụ thể là các ứng dụng không dây. Điện thoại di động, máy tính xách tay đã trở thành một phần không thể thiếu trong nhiều công việc cũng như trong cuộc sống của nhiều người. Tuy nhiên, những thiết bị này đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng thì mới có thể kết nối mạng với nhau được.
Đối với điện thoại di động, chúng ta cần có sự hoạt động của một mạng cell, các máy tính xách tay thì cần các Access Point (AP) [19].1: Mô hình mạng có cấu trúc Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng có thể lắp đặt các thiết bị hạ tầng này. Đó có thể là những nơi mà điều kiện không cho phép như chiến trường hay những nơi đang bị thiên tai núi lửa, động đất hay lụt lội,… Vậy chúng ta phải làm sao để có thể tiếp tục sử dụng được sự tiện lợi của mạng không dây? Vì thế mạng di động ad-hoc (MANET: Mobile Ad Hoc Network) đã ra đời trong hoàn cảnh đó.2 Giới thiệu về mạng MANET GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN 5 HVTH: NGUYỄN QUANG VINH CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET Tương lai của công nghệ thông tin sẽ dựa chủ yếu vào công nghệ không dây. Những mạng cell và mạng truyền thống vẫn sẽ còn tồn tại.
Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó các mạng này sẽ bị hạn chế bởi các kiến trúc hạ tầng mà các mạng này đòi hỏi (chẳng hạn như các trạm thu phát gốc, các bộ định tuyến). Đối với mạng MANET thì những hạn chế này đã được loại bỏ.2: Ví dụ về mạng MANET MANET là chìa khóa cho sự phát triển của các mạng không dây. Mạng MANET thường được tạo nên bởi các node ngang hàng, giao tiếp nhau thông qua kênh truyền vô tuyến mà không cần bất kì bộ điều khiển trung tâm nào. Mặc dù vẫn được dùng chủ yếu trong quân sự, nhưng các ứng dụng về thương mại đã ngày càng được phát triển.
Những ứng dụng như nhiệm vụ giải cứu trong các thảm họa thiên nhiên, các mục đích thương mại và giáo dục, mạng cảm biến không dây… ngày càng phát triển [19]. Mạng MANET vẫn bị ảnh hưởng bởi các vấn đề khó khăn của mạng không dây truyền thống như tối ưu băng thông, điều khiển năng lượng, nâng cao về đường truyền. Hơn nữa, với bản chất về đường truyền đa hop và thiếu các hạ tầng cố định đã phát sinh ra các khó khăn mới như cấu hình quảng bá, tìm đường và duy trì tuyến trong quá trình định tuyến. Trong mạng MANET, cấu hình mạng thường xuyên thay đổi một cách ngẫu nhiên.
Thêm nữa, sự phân bố của các node và khả năng tự tổ chức đóng một vai trò quan trọng. Những đặc tính chính có thể tổng kết dưới đây: GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN 6 HVTH: NGUYỄN QUANG VINH CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET • Cấu hình mạng năng động và sự thay đổi thường xuyên là không dự đoán được. • Sử dụng kênh truyền không dây nên có sự hạn chế về dung lượng hơn là mạng có dây truyền thống.
• Sự bảo mật là hạn chế do kênh truyền không dây. • Bị ảnh hưởng bởi sự mất mát gói dữ liệu lớn, chịu delay và jitter lớn hơn là mạng cố định do sự lan truyền sóng vô tuyến. • Các node trong mạng MANET chỉ sử dụng pin như là nguồn năng lượng chính. Vì thế, tiết kiệm năng lượng là một tiêu chuẩn quan trọng trong việc thiết kế hệ thống.
Ngoài ra, tập hợp các lệnh được thực hiện phụ thuộc vào năng lượng sẵn có của nó (CPU, bộ nhớ,…). Mạng MANET không chỉ dựa trên một công nghệ mà nó tận dụng các công nghệ tiên tiến khác nhau. Ở đây, nhiệm vụ là làm sao định nghĩa các giao diện (interface) để nó có thể được sử dụng bởi các lớp trên mà không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ mới của lớp vật lý. Thông tin như là sự phân bố các node, mật độ của mạng, link hỏng,… phải được chia sẽ bởi các lớp khác nhau, lớp MAC và lớp mạng phải có sự hợp tác tốt để có cái nhìn tốt về cấu hình mạng và tối ưu số lượng các thông báo trên mạng.
Mạng MANET rất độc lập về cấu trúc và quyền ưu tiên, cung cấp một tiềm năng lớn cho người sử dụng. Sự thật là chỉ cần từ 2 node trở lên là có thể tạo nên một mạng MANET miễn là các node đủ gần cho sự lan truyền sóng vô tuyến mà không có bất kì sự can thiệp của bên ngoài.3 Nguyên tắc hoạt động Hình 2.3: Nguyên tắc hoạt động mạng MANET GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN 7 HVTH: NGUYỄN QUANG VINH CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET Hình 2.3 là một ví dụ diễn tả hoạt động của mạng MANET. Ở đây node A truyền nhận dữ liệu trực tiếp (đơn hop) với các node khác (ví dụ node B) miễn là có sẵn một kênh truyền radio giữa chúng.
Nếu không, giữa hai node sẽ có sự truyền nhận dữ liệu đa hop trong đó một hay nhiều node trung gian có nhiệm vụ giống như một router. Chẳng hạn nếu không có kênh truyền thẳng giữa A và C lúc đó node B sẽ có nhiệm vụ giống như một router. Đây là điểm đặc biệt của mạng MANET.2 Những ứng dụng trong mạng MANET 2.1 Trong quân sự Từ xưa đến nay, các công nghệ kĩ thuật cao luôn được phát triển mạnh trong lĩnh vực quân sự. Vì thế quân sự cũng là động lực chính cho sự phát triển của mạng MANET.
Mạng MANET không đòi hỏi sự điều khiển từ trung tâm cũng như là tồn tại một cơ sở hạ tầng sẵn có nên nó rất là hoàn hảo cho các ứng dụng quân sự. Trên chiến trường, binh lính có thể liên lạc với nhau bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.4 Ứng dụng mạng MANET trong quân sự 2.2 Trong mạng cục bộ Đây là mạng mà có thể gặp được dễ dàng trong các hội nghị hoặc trong lớp học. Khi các node muốn kết nối lại với nhau để có thể truyền và nhận dữ liệu.3 Trong trường hợp khẩn cấp GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN 8 HVTH: NGUYỄN QUANG VINH CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRONG MẠNG MANET Do đặc tính không cần hạ tầng cố định cũng như là sự quản trị nên mạng MANET cũng rất phù hợp trong các tình huống mà ở đó hạ tầng mạng đã bị phá hủy hay không sẵn có do một nguyên nhân nào đó.
Mục đích của việc thiết lập mạng MANET trong tình huống này là giúp cho các thiết bị di động có thể liên lạc được với nhau và sử dụng được các dịch vụ mạng vốn dĩ rất quan trọng trong các công tác cứu hộ khẩn cấp. Chẳng hạn lính cứu hỏa và cảnh sát có thể liên lạc được với nhau và trao đổi thông tin một cách nhanh chóng khi mà hạ tầng đã bị phá hủy hoặc không có sẵn.4 Mạng cảm biến không dây Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào các mạng gồm những thiết bị cảm biến. Mạng cảm biến không dây (wireless sensor networks) sử dụng các cảm biến để thu thập thông tin và truyền tới một bộ phận xử lý trung tâm. Khi mà một cảm biến được đặt thì vị trí của nó luôn cố định.
Công nghệ này rất hữu ích đối với những môi trường mà khó khăn trong việc cung cấp một mạng có cơ sở hạ tầng. Ví dụ trong môi trường bị nhiễm phóng xạ hóa học, thay vì phải gởi đến một đội cứu hộ khẩn cấp thì chúng ta chỉ việc lắp đặt các sensor để tạo thành một mạng ad-hoc. Các thiết bị cảm biến có kích thước nhỏ, năng lượng ít. Do đó tiết kiệm năng lượng là mục tiêu chính của người thiết kế mạng cảm biến.3 Những thách thức đối với mạng MANET Trong mạng MANET, các node di chuyển một cách ngẫu nhiên, tự tổ chức và tự cấu hình lại khi nó di chuyển, tham gia hay rời khỏi mạng, vì thế mà cấu hình mạng thay đổi thường xuyên.
Tất cả các node đóng vai trò như nhau trên mạng và các chức năng của mạng được phân phối và được quyết định bởi tất cả các node. Vì thế mạng MANET không cần một máy quản trị trung tâm. Tuy nhiên chính vì nguyên nhân này mà mạng MANET đã gặp phải không ít khó khăn.1 Giao thức định tuyến đa hop GVHD: TS.