CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ INTERNET OF THINGS 1.1 Internet of things Internet of Things (IoT) đề cập đến mạng lƣới các đối tƣợng vật lý, nó đang phát triển nhanh và đã có hàng tỷ thiết bị đƣợc kết nối. Điều này khác với internet hiện tại, nó phần lớn là một mạng máy tính, bao gồm cả điện thoại và máy tính bảng. “Things” trong IoT có thể là bất cứ thứ gì, từ thiết bị gia dụng, máy móc, hàng hóa, tòa nhà và phƣơng tiện cho đến con ngƣời, động vật và thực vật.
Với IoT, tất cả các đối tƣợng vật lý đƣợc kết nối với nhau, có khả năng trao đổi dữ liệu với nhau mà không cần sự can thiệp của con ngƣời. Họ có thể đƣợc truy cập và kiểm soát từ xa. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc sống của chúng ta. Khái niệm các thiết bị kết nối với nhau không phải là mới.
Năm 1982, một máy Coke tại Đại học Carnegie Mellon đã trở thành thiết bị đầu tiên đƣợc kết nối với Internet. Nó có thể theo dõi hàng tồn kho và cho biết liệu đồ uống còn lạnh ko. Kể từ đó, tính kết nối đã đƣợc mở rộng đáng kể, trong các lĩnh vực điện toán có mặt khắp nơi, truyền thông từ máy đến máy (M2M) và liên lạc từ thiết bị đến thiết bị (D2D). Nhƣng thuật ngữ IoT đƣợc đƣa ra bởi doanh nhân ngƣời Anh - Kevin Ashton vào năm 1999, trong một bài thuyết trình mà ông đã thực hiện cho Procter & Gamble.
Vào thời điểm đó, ông là ngƣời đồng sáng lập và giám độc điều hành của trung tâm Auto-ID tại MIT và tầm nhìn của IoT dựa trên nhận dạng bằng tần số vô tuyển RFID (radio-frequency identification). IoT đã phát triển kể từ đó và ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây, do sự hội tụ của một số công nghệ nhƣ vi điều khiển, cảm biến, truyền thông không dây, hệ thống nhúng và hệ thống cơ điện tử (MEMS). Ngày này, IoT đƣợc xem nhƣ là công nghệ của tƣơng lai, là tƣơng lai của internet. Theo Internet Society, sẽ có khoảng 100 tỷ thiết bị IoT và thị trƣờng toàn cầu hơn 11 nghìn tỷ đô la vào năm 2025.
IoT sẽ phát triển theo cấp số nhân giống nhƣ những gì Internet đã làm cách đây khoảng hai thập kỷ [1-9-10]. Luan van 5 Hình 1.1: Tổng quan về IoT 1.2 C c yêu cầu truyền thông IoT Có một số bƣớc để làm cho Internet vạn vật (IoT) hoạt động: Đầu tiên, mỗi phần tử trong mạng phải có một định danh duy nhất. Nhờ địa chỉ IPv6 (Internet Protocol Version 6), địa chỉ IP thế hệ tiếp theo với chiều dài 128 bit sẽ cung cấp một lƣợng địa chỉ khổng lồ cho hoạt động Internet. Chúng ta có thể chỉ định một ID duy nhất cho một đối tƣợng vật lý trên hành tinh.
Thứ hai, mỗi đối tƣợng trong IoT đều phải có khả năng giao tiếp. Có một số công nghệ không dây hiện đại giúp truyền thông có thể thực hiện đƣợc, chẳng hạn nhƣ WiFi, Bluetooth năng lƣợng thấp, NFC, RFID, cũng nhƣ ZigBee, Z-Wave và 6LoWPAN (sử dụng giao thức IPv6 trong các mạng PAN không dây công suất thấp). Thứ ba, mỗi đối tƣợng trong IoT cần phải có cảm biến để chúng ta có thể lấy thông tin về nó. Các cảm biến có thể là nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chuyển động, áp suất, hồng ngoại, cảm biến siêu âm, v.v… Các cảm biến mới đang ngày càng nhỏ hơn, rẻ hơn và bền hơn.
Thứ tƣ, mỗi đối tƣợng trong IoT cần có một bộ vi điều khiển (hoặc bộ vi xử lý) để quản lý các cảm biến và liên lạc, và để thực hiệc các tác vụ. Có nhiều bộ vi điều khiển có thể đƣợc sử dụng trong IoT, nhƣng bộ vi điều khiển dựa trên ARM chắc chắn là một trong những bộ vi điều khiển có ảnh hƣởng nhiều nhất. Luan van 6 Cuối cùng, chúng ta sẽ hệ thống máy tính sƣơng mù (Fog Computing) để lƣu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu để chúng ta có thể thấy những gì đang diễn ra và tƣơng tác qua ứng dụng điện thoại.3 Mô hình kiến trúc của IoT Kiến trúc hệ thống phải cung cấp đảm bảo hoạt động cho IoT, nó là cầu nối khoảng cách giữa các thiết bị vật lý và thế giới ảo. Khi thiết kế, kiến trúc IoT cần xem xét các yếu tố sau: (1) Các yếu tố kỹ thuật, nhƣ kỹ thuật cảm biến, phƣơng thức truyền thông, công nghệ mạng, v.; (2) Đảm bảo an ninh, nhƣ bảo mật thông tin, bảo mật truyền dẫn, bảo vệ quyền riêng tƣ, v.; (3) Các vấn đề kinh doanh, chẳng hạn nhƣ mô hình kinh doanh, quy trình kinh doanh, v.
… Hiện tại, SoA (Service Oriented Architecture - kiến trúc hƣớng dịch vụ) đã đƣợc áp dụng thành công cho thiết kế IoT, nơi các ứng dụng đang hƣớng tới các công nghệ tích hợp hƣớng dịch vụ. Trong lĩnh vực kinh doanh, các ứng dụng phức tạp giữa các dịch vụ đa dạng đã xuất hiện. Các dịch vụ nằm trong các lớp khác nhau của IoT nhƣ: lớp cảm biến, lớp mạng, lớp dịch vụ và lớp giao diện ứng dụng. Ứng dụng dựa trên dịch vụ sẽ phụ thuộc nhiều vào kiến trúc của IoT.2 dƣới đây mô tả một mô hình kiến trúc cho IoT, bao gồm 4 lớp: Lớp cảm biến đƣợc tích hợp với các thành phần cuối của IoT để cảm nhận và thu thập thông tin của các thiết bị.
Lớp mạng là cơ sở hạ tầng để hỗ trợ các kết nối không dây hoặc có dây giữa các đối tƣợng trong IoT. Lớp dịch vụ cung cấp và quản lý các dịch vụ theo yêu cầu của ngƣời dùng hoặc ứng dụng. Lớp ứng dụng – giao diện bao gồm các phƣơng thức tƣơng tác với ngƣời dùng hoặc ứng dụng. Luan van 7 Hình 1.2: SoA cho IoT 1.1 Lớp cảm biến Đây là nguồn gốc thông tin và là lớp cốt lõi của IoT.
Tất cả các loại thông tin của thế giới vật lý đƣợc sử dụng trong IoT đều đƣợc nhận biết và thu thập qua lớp này. Các cảm biến đƣợc sử dụng để xác định các đối tƣợng cũng nhƣ truyền tải dữ liệu đƣợc cung cấp tới lớp tiếp theo. Các thiết bị thu thập và tải dữ liệu lên lớp mạng trực tiếp hoặc gián tiếp. Dự kiến tất cả các thiết bị sẽ sử dụng IPv6 trong tƣơng lai.
Các công nghệ đƣợc sử dụng trong lớp này nhƣ mạng cảm biến không dây (WSN), các công nghệ cảm biến, các thẻ đọc và ghi dữ liệu, hệ thống RFID, camera, hệ thống định vị toàn cầu (GPS), thiết bị đầu cuối thông minh, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), v.v…Khi xây dựng lớp cảm biến cho IoT, các mối quan tâm chính nhƣ: Chi phí, kích thước, tài nguyên và mức tiêu thụ năng lượng: Những đối tƣợng có thể đƣợc trang bị các thiết bị cảm biến nhƣ thẻ RFID, cảm biến, bộ truyền động, v., cần đƣợc thiết kế để giảm thiểu các nguồn tài nguyên cần thiết cũng nhƣ chi phí. Luan van 8 Triển khai: Các nút cuối của IoT (nhƣ đầu đọc RFID, thẻ, cảm biến, v.) có thể đƣợc triển khai một lần hoặc theo cách tăng dần hoặc ngẫu nhiên tùy theo yêu cầu của ứng dụng. Tính bất đồng bộ: Một loạt các đối tƣợng hoặc mạng lai làm cho IoT rất không đồng nhất. Giao tiếp: Các nút cuối IoT phải đƣợc thiết kế có khả năng giao tiếp với nhau.
Mạng: IoT liên quan đến các mạng lai, chẳng hạn nhƣ mạng cảm biến không dây, mạng lƣới không dây và hệ thống kiếm soát và thu thập dữ liệu giám sát.1 Hệ thống nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID) Các hệ thống RFID bao gồm 3 thành phần chính: thẻ RFID, đầu đọc, thệ thống ứng dụng.3: Hệ thống nhận dạng vô tuyến (RFID) Thẻ RFID: còn đƣợc gọi là bộ tiếp sóng đƣợc gắn vào các đối tƣợng để đếm hoặc nhận dạng. Các thẻ có thể là chủ động hoặc thụ động. Thẻ chủ động là những thẻ có năng lƣợng pin một phần hoặc đầy, có khả năng giao tiếp với các thẻ khác và có thể bắt đầu một phiên trao đổi của riêng chúng với trình đọc thẻ. Mặt khác, thẻ thụ động không cần bất kỳ nguồn năng lƣợng nào mà đƣợc cung cấp bởi trình đọc thẻ.
Thẻ bao gồm chủ yếu là ăng-ten cuộn và một vi mạch, mới mục đích chính là lƣu trữ dữ liệu. Đầu đọc: còn đƣợc gọi là bộ thu phát (máy phát/máy thu) đƣợc tạo thành từ mô-đun và bộ điều khiển giao diện tần số vô tuyến (RFI). Chức năng chính của nó Luan van 9 là kích hoạt các thẻ, cấu trúc chuỗi giao tiếp với thẻ và truyền dữ liệu giữa phần mềm ứng dụng và thẻ. Hệ thống ứng dụng: Còn gọi là hệ thống xử lý dữ liệu, có thể là một ứng dụng hoặc cơ sở dữ liệu, tùy thuộc vào ứng dụng.
Phần mềm ứng dụng khởi tạo tất cả các hoạt động đọc thẻ. RFID cung cấp một cách nhanh chóng, linh hoạt và đáng tin cậy để phát hiện, theo dõi và kiểm soát nhiều thiết bị điện tử. Các hệ thống RFID sử dụng truyền phát vô tuyến để gửi năng lƣợng đến thẻ RFID trong khi thẻ phát ra mã nhận dạng duy nhất trở lại đầu đọc thu thập dữ liệu đƣợc liên kết với hệ thống quản lý thông tin. Dữ liệu đƣợc thu thập từ thẻ sau đó có thể đƣợc gửi trực tiếp đến máy chủ hoặc đƣợc lƣu trữ trong một trình đọc di động và đƣợc tải lên sau đó đến máy chủ.2 Mạng cảm biến không dây (WSN) Thông thƣờng các mạng cảm biến không dây (WSN) bao gồm một nhóm các thiết bị cảm biến, nằm rải rác trong một khu vực nhất định thu thập và báo cáo dữ liệu cho một thiết bị thu phát trung tâm (sink), sau đó gửi dữ liệu đến kho lƣu trữ dữ liệu để xử lý.
Các thiết bị trung tâm này thƣờng mạnh hơn các thiết bị cảm biến vì chúng đƣợc yêu cầu xử lý tất cả các thông tin đến, có thể thực hiện một số xử lý thông tin và gửi thông tin đến hệ thống bach-end. Ý tƣởng này đƣợc mô tả nhƣ hình 1.4: Mô hình mạng WSN đơn giản Do các thiết bị cảm biến có phạm vi giao tiếp hạn chế, chúng có thể không phải lúc nào cũng có thể gửi/báo các thông tin trực tiếp đến sink. Do đó, các mạng Luan van 10 WSN thƣờng chuyển tiếp thông tin qua các nút cảm biến khác cho đến khi đến đƣợc sink.2 Lớp mạng Lớp này còn đƣợc gọi là lớp giao vận, bao gồm mạng truy nhập và mạng lõi, cung cấp khả năng truyền dữ liệu thu đƣợc từ lớp dƣới lên lớp trên.