Chương 1: Cơ sở lý luận về QTRR công nghệ Chương 2: Đánh gia thực trạng QTRR công nghệ trong hoạt động của Trung tâm Ha tang thông tin tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động của Trung tâm Hạ tầng thông tin tỉnh Vĩnh Phúc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI RỦI RO CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm rủi ro, bản chất rủi ro và phân loại rủi ro 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm quan trọng trong một số lĩnh vực khoa học, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa và giải thích (Aven, 2011).
Rủi ro hầu như được nhìn theo nghĩa tiêu cực, như “rủi ro là tác hại dự kiến” (Campbell, 2005), hay “rủi ro thường được coi là chỉ ra một số mức độ nguy hiểm” (Bettis, 1982). Một số cơ quan xây dựng tiêu chuẩn quốc gia như Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) cũng tiếp cận theo cách này, khi định nghĩa “rủi ro là tác động của sự không chắc chắn” (ISO 9000:2015). Hillson (2002a) cho rằng từ “không chắc chắn” là một thuật ngữ bao quát đề chỉ rủi ro, biểu thị các tác động tiêu cực hoặc mối đe dọa và đề cập đến cơ hội là một sự không chắc chắn có tác động tích cực. Theo Heldman (2005), phần lớn chúng ta thường bỏ qua mặt tích cực, và có xu hướng nghĩ đến rủi ro về những hậu quả tiêu cực.
Mặc dù rủi ro là những sự kiện tiềm ân gây ra mối đe dọa song chúng cũng là những cơ hội tiềm ấn trong rủi ro. Đó là một trở ngại ngăn cản, dù tích cực hay tiêu cực, được thực hiện dựa trên các mục tiêu đã đặt ra. Ngược lại với quan điểm coi rủi ro là một sự kiện đẫn đến ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu nếu nó xảy ra là quan điểm nhìn nhận rủi ro như sự không chắc chan. Sự không chắc chắn được định nghĩa là một xác suất không xác định xảy ra của một sự kiện xuất phát từ ba nguồn chính (1) các yếu tố bên ngoài, (2) sự thay đôi của chiến lược kinh doanh và (3) các phương pháp không xác định để thực hiện công việc (Jaafari, 2001).
Xác suất tác động không xác định cùng với nhiều biến số với các mức độ không chắc chắn khác nhau trong bối cảnh môi trường thay đôi nhanh chóng đã tạo ra nhiều khó khăn và phức tạp hơn trong quản lý và vận hành hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, Chapman và Ward (1997) đã phát triển một quan điểm hơi khác, trong đó rủi ro là tác động không chắc chan chứ không phải là nguyên nhân gây ra ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động như chỉ phí, thời gian và chất lượng. Do đó, thuật ngữ không chắc chắn là rủi ro bao gồm “sự thay đổi” về các biện pháp thực hiện và “sự không rõ ràng” được kết nối chặt chẽ với sự thiếu rõ ràng do các yếu tố khác nhau. Những lập luận phía trên có thể đưa tới một thuật ngữ gần với rủi ro là “bất trắc”.
Hoàng Dinh Phi (2015) phân biệt giữa hai thuật ngữ này như sau: “Rui ro là một sự không 11 chắc chan hay một tình trang bat ồn. Chỉ những tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn chưa từng xảy ra và không thé ước đoán được xác suất xảy ra được xem là bat trắc chứ không phải là rủi ro.” Như vậy, rủi ro trong hoạt động của một tổ chức hay doanh nghiệp có thé được hiểu là “bắt kỳ sự kiện hay hành động nào có thể tác động hoặc ngăn cản doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra” (Hoàng Đình Phi, 2015). Rủi ro là một tình huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bat lợi so với kết quả dự tính.
Bản chất của rủi ro Rủi ro là một trạng thái tiềm ân gây ra những tác động với các mức độ khác nhau cho tô chức. Từ những khái niệm phía trên, có thể thấy bản chất của rủi ro được thé hiện ở những đặc điểm cơ bản: - Tinh bat ngờ: rủi ro bao gồm những sự kiện mà con người không thé đo lường nó một cách đầy đủ và chắc chắn. Mức độ bất ngờ khác nhau của rủi ro quyết định khả năng nhận diện ra rủi ro hay không. Trường hợp không thê đoán trước và không nhận dạng được, rủi ro sẽ xảy ra hoàn toàn bất ngờ.
Một số rủi ro con người có thể nhận dạng được song không thể xác định chính xác thiệt hại mà nó có thể gây ra. Tuy nhiên, trường hợp có thể nhận dạng và tính được chính xác các rủi ro có thể xảy ra thì rủi ro không còn nữa ma chuyên hóa thành những sự kiện bat lợi mà con người không mong muốn xảy ra như thiên tai, thời tiết. - Tính chất ngoài mong đợi: Con người ai cũng mong muốn nhận được lợi ích cũng như những điều tốt đẹp, may mắn. Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào cũng được như vậy.
Những điều, những sự kiện không may mắn, gây ton thất cho con người là không thé tránh khỏi và trở thành điều không mong muốn trong cuộc sống hay những sự kiện ngoài mong đợi. - Tính sự cô gây ra tôn thất: những rủi ro xảy ra không thé đo lường được hoặc đo lường không chính xác dẫn đến những hậu quả. Trên thực tế, mỗi rủi ro gây ra mức độ tôn thất khác, thậm chí có thể không dẫn đến tôn thất gì. Tổn thất của rủi ro thé hiện ở dạng hữu hình (tài sản, vật chat) hay vô hình (sức khỏe, tinh thần, trách nhiệm, đạo đức.
Nói cách khác, dù xem xét dưới góc độ nảo thì đặc điểm của rủi ro là tính bất ngờ, ngoài mong đợi của con người và gây ra ton thất ở mức độ khác nhau đối với các hoạt động cua con nguoi. Phân loại rủi ro Trần Hùng và cộng sự (2017) phân loại một số loại rủi ro dựa trên các tiêu thức khác nhau. Theo nguyên nhân gây ra rủi ro - Rui ro sự cố là rủi ro gắn liền với sự cô ngoài dự kiến, đây là những rủi ro khách quan khó tránh khỏi (thường gắn liền với các yếu tố bên ngoài). Rui ro sự cố thường gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, khó lường, ảnh hưởng tiêu cực, sâu rộng.
Đa số rủi ro sự cô bắt nguồn từ tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu môi trường, xác định quy luật của các yếu tố khách quan góp phần quan trọng vào khả năng hạn chế các rủi ro sự cố. - Rui ro cơ hội là rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thé. Căn cứ quá trình ra quyết định thì rủi ro cơ hội gồm: Rủi ro liên quan đến giai đoạn trước khi ra quyết định (thu thập và xử lý thông tin, lựa chọn cách thức ra quyết định), rủi ro trong quá trình ra quyết định, rủi ro liên quan đến giai đoạn sau khi ra quyết định.
Theo kết qua, hậu quả nhận duoc - Rui ro thuần túy tồn tại là rủi ro xảy ra khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội, không có khả năng có lợi cho chủ thể (rủi ro một chiều). Rủi ro thuần túy thường xảy ra đối với tài sản của cá nhân. Bất cứ một cá nhân nào là chủ sở hữu tài sản, đều phải chịu rủi ro về tài sản. Rui ro về tài san là những tổn thất về tài sản do bị hư hỏng hay mat mát.
Rui ro tốn thất về tài sản có thé là một hỗn hợp giữa 3 loại rủi ro: (1) ton thất về tai san, (2) tôn thất về thu nhập khi tài sản không được sử dụng, (3) chi phí tăng thêm trong trường hợp có thiệt hại về tài sản. - Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời cũng như một nguy cơ tôn thất, hay nói cách khác là rủi ro vừa có khả năng có lợi, vừa có khả năng tổn that. Rui ro suy đoán là rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và đầu cơ. Khái niệm công nghệ, rủi ro công nghệ 1.
Khái niệm công nghệ Wadhwa và Harper (2014) cho rằng các định nghĩa về công nghệ đến nay đều rất mơ hồ và không rõ nghĩa. Trong nhiều năm qua, phần lớn các học giả hạn chế đưa ra một định nghĩa quy chuẩn cho “công nghệ. Do đó, không có một định nghĩa thống nhất chung cho thuật ngữ này trên phạm vi toàn cầu (Misa 2009). Rõ ràng, không thé thực hiện những nghiên cứu về công nghệ mà không có sự hiểu biết thấu đáo về công nghệ là gì, và công nghệ làm gi (Barney, 2000), và việc thiếu hiểu biết này khiến công nghệ trở nên kém phát 13 triển hơn (Lake, 2002).
Công nghệ (Technology) hình thành từ sự kết hợp của hai chữ “techne” và “logos” trong tiếng Hy Lạp (Lake, 2002), đã có nhiều định nghĩa dựa trên các quan điểm khác nhau. Naughton (1994) giải thích công nghệ là “việc áp dụng các kiến thức khoa học và kiến thức khác vào các nhiệm vụ thực tế của các tô chức có sự tham gia của con người và máy móc”. Allen và Wircenski (1998) định nghĩa công nghệ trong bối cảnh giáo dục và đào tạo là “việc sử dụng lý thuyết, quy trình, thông tin và tài liệu dé nâng cao kiến thức, kỹ năng va thái độ của một xã hội.” White and Bruton (2011) định nghĩa công nghệ là “việc thực hiện thực tế việc học và kiến thức của các cá nhân và tổ chức dé hỗ trợ nỗ lực của con nguoi. Công nghệ là tri thức, san phẩm, quy trình, công cụ và hệ thống được sử dụng để tạo ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ.” White và Bruton (2011) tong hợp các quan điểm chính trong một số định nghĩa về công nghệ bao gồm: * Các quy trình được sử dụng dé thay đổi đầu vào thành đầu ra; * Việc áp dung kiến thức đề thực hiện công việc; *Kiến thức, kỹ năng và hiện vat lý thuyết và thực tế có thé được sử dụng để phát triển sản phẩm cũng như hệ thống sản xuất và phân phối của chúng; s Các phương tiện kỹ thuật sử dụng dé cải thiện môi trường xung quanh; ° Ứng dụng của khoa học, đặc biệt là cho các mục tiêu công nghiệp hoặc thương mại; toàn bộ các phương pháp và vật liệu được sử dụng dé đạt được các mục tiêu đó.