CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU quá trình dự đoán để thay đổi kết quả, dẫn đến các dự đoán sai lệch. • Quyền riêng tư về dữ liệu: hiện tại dữ liệu huấn luyện ở các mô hình gần như là dữ liệu thực tế. Kẻ tấn công có thể lặp lại các truy vấn tới một mô hình đã được huấn luyện nhằm thu thập dữ liệu ban đầu dùng cho quá trình huấn luyện.
• Bảo mật phần cứng và phần mềm: mã nguồn của ứng dụng, nền tảng sử dụng, hay các thiết bị phần cứng như chip có thể mang lỗ hổng hoặc các cửa hậu (backdoor) cho phép kẻ tấn công có thể khai thác. Dựa vào các thách thức trên mà nhiều người đã và đang nghiên cứu về các cuộc tấn công có thể xảy ra để phòng chống đối với các bước cơ bản của một quá trình tạo nên sản phẩm trí tuệ nhân tạo: • Quá trình huấn luyện (training): tấn công đầu độc dữ liệu (poi- soning) [5][6], sử dụng các phần mềm độc hại như backdoor kèm theo trong dữ liệu, và các vấn đề về quyền riêng tư về dữ liệu (differential privacy) [7]. • Quá trình dự đoán (predicting): tấn công né tránh (evasion) [1][2][3] điển hình là tạo các mẫu đối kháng (adversarial samples) hay tác động mặt vật lý như sửa đổi các biển báo giao thông để đánh lừa mô hình trí tuệ nhân tạo nhận diện biển báo giao thông. Sơ lược về tấn công đối kháng Tấn công đối kháng (adversarial attacks) được giới thiệu đầu tiên vào năm 2014, bởi một nhóm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Google [8].
Cụ thể, bằng cách chèn một lượng nhiễu nhất định vào các hình ảnh khác nhau từ cơ sở dữ liệu ImageNet, các nhà nghiên cứu của Google đã khiến một hệ thống học máy phân loại sai lệch các hình ảnh này mặc dù hệ thống này được xây dựng trên mạng nơ-ron tích chập AlexNet - một mạng tích chập (convolutional neural network - CNN) [9] rất phổ biến và được đánh giá cao trong lĩnh vực phân loại ảnh. Quá trình chèn nhiễu vào các dữ liệu trước khi đưa vào các mô hình học máy, trí tuệ nhân tạo đã được xây dựng trước, đó khiến cho các mô hình này đưa ra các dự đoán sai về dữ liệu, hay đưa ra các phán đoán theo mục đích của kẻ tấn công được gọi là tấn công đối kháng. Và các mẫu dữ liệu đã bị thay đổi gọi là mẫu đối kháng (adversarial samples). Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về tấn công đối kháng ngoài hình ảnh còn có cả âm thanh, văn bản chữ viết, và ngày càng tinh vi hơn.
Bằng cách cải thiện phương pháp chèn nhiễu khiến con người khó có thể nhận biết đâu là các dữ liệu đã được thay đổi để tấn công. Ngược lại, các mô hình học máy, trí tuệ nhân tạo lại có thể hiểu và thực hiện các lệnh thực thi ẩn theo mục đích của kẻ tấn công. Phạm vi và mục tiêu của luận văn 1. Mục tiêu Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về các cuộc tấn công đối kháng với các mô hình nhận diện phân loại giọng nói tiếng Việt.
Trong quá trình nghiên cứu có các hướng tiếp cận tấn công khác nhau. Tấn công vào các mô hình hộp trắng (white-box), khi đó kẻ tấn biết được các cấu trúc thông số của mô hình và có quyền truy cập sửa đổi dữ liệu khiến mô hình hoạt động sai lệch. Ngoài ra, còn hướng tấn công vào các mô hình hộp đen (black-box) đang được áp dụng thực tế như Google Assistant, Microsoft Cortana. Trong tấn công mô hình hộp đen, kẻ tấn chỉ có quyền truy vấn, gửi các dữ liệu đến mô hình và nhận lại kết quả mà không hề biết mô hình sử dụng là gì và hoạt động như thế nào.
Theo như chúng tôi khảo sát, việc nghiên cứu về các cuộc tấn công vào các mô hình nhận diện giọng nói trong tiếng Anh đã được thực hiện rất nhiều trong các năm gần đây (2014-2021) [1][2][3][10]. Tuy nhiên lại rất ít nghiên cứu thực hiện các cuộc tấn công này trên các mô hình nhận diện giọng nói trong tiếng Việt. Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn xây dựng các cuộc tấn công cơ bản trên các mô hình nhận diện phân loại giọng nói tiếng Việt hộp trắng. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương thức tấn công cơ bản nhất đã được giới thiệu bởi nhóm nghiên cứu của Google [8].
Ngoài ra chúng tôi cải biến phương pháp ấy giúp các cuộc tấn công hiệu quả và nhanh chóng hơn. Thông qua các công việc trên, chúng tôi muốn xây dựng một nền tảng cơ bản để mở rộng các cuộc tấn công đối kháng vào các mô hình nhận diện chuyển đổi giọng nói thành chữ viết, hay các mô hình hộp đen trong tiếng Việt. Phạm vi Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ giới hạn bài toán lớn cần phải giải quyết vào một ngữ cảnh tấn công nhất định với một số điều kiện thích hợp. Về ngữ cảnh tấn công, chúng tôi giả sử mình là kẻ tấn công, và đã truy cập thành công vào một hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Chúng tôi có thể xem được cấu trúc, thông số của mô hình, bên cạnh đó chúng tôi cũng có thể truy cập, tải về và chỉnh sửa các dữ liệu dùng cho việc huấn luyện mô hình. Từ đó chúng tôi sẽ xây dựng một mô hình bản sao của mô hình mục tiêu, sử dụng mô hình bản sao ấy để tạo ra các mẫu âm thanh đối kháng từ các mẫu âm thanh đã được mô hình gốc nhận diện chính xác trước đó. Các mẫu âm thanh đối kháng sẽ được gửi đến mô hình gốc ban đầu để thực hiện quá trình dự đoán. Đối với các mẫu âm thanh đối kháng được tạo ra phải đáp ứng được hai điều kiện quan trọng mà chúng tôi đặt ra đó là 1.
Các mẫu tấn công phải có ảnh hưởng đến quá trình dự đoán của mô hình. Các mẫu tấn công sẽ làm độ chính xác quá trình dự đoán của mô hình giảm đối với các cuộc tấn công không mục tiêu. Ngược lại, đối với các cuộc tấn công có mục tiêu do chúng tôi chỉ định, thì các mẫu tấn công phải được dự đoán vào lớp mục tiêu chỉ định ban đầu. Nội dung ban đầu của các mẫu âm thanh gốc ban đầu vẫn sẽ được bảo toàn, không thay đổi.
Ví dụ, với một mẫu âm thanh gốc có nội dung là “xin chào”, thì mẫu tấn công khi phát ra tai người vẫn nghe là “xin chào” nhưng mô hình lại nhận diện phân loại sai lệch thành “chuyển tiền” và thực hiện giao dịch. Cấu trúc luận văn Luận văn bao gồm bảy chương, có bố cục như sau: • Chương 1: Giới thiệu và đưa ra cái nhìn tổng quan về “Nghiên cứu và phát triển một số kỹ thuật tấn công đối kháng trong mô hình nhận diện phân loại giọng nói tiếng Việt”. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết nền tảng cho các phương pháp, quá trình thực hiện đề tài. • Chương 3: Các công trình nghiên cứu, tiếp cận liên quan về các cuộc tấn công đối kháng trên các mô hình nhận diện giọng nói hộp trắng và hộp đen.
• Chương 4, Chương 5: Đây là phần nội dung trọng tâm của luận văn. Hai chương này lần lượt trình bày phương pháp đề xuất và quá trình hiện thực mô hình. • Chương 6: Thực nghiệm và đánh giá kết quả từ các cuộc tấn công do chúng tôi thực hiện • Chương 7: Tổng kết lại toàn bộ quá trình thực hiện, kết quả đạt được, những hạn chế và hướng mở rộng trong tương lai. 7 2 Kiến thức nền tảng 2.
Tiền xử lý âm thanh 2. Âm học Các mô hình trí tuệ nhân tạo nói chung và mô hình nhận diện phân loại giọng nói nói riêng đều được xây dựng dựa trên các đặc tính cơ bản của các giác quan con người. Mắt dùng để xử lý hình ảnh, tai dùng để tiếp thu các thông tin thông qua âm thanh, miệng giúp phát ra âm thanh truyền đạt nội dung mong muốn. Vì vậy, để hiểu được một mô hình nhận diện giọng nói hoạt động như thế nào ta cần có kiến thức cơ sở về âm thanh và giọng nói của con người.
Tại sao mỗi người khác nhau sẽ có các giọng nói khác nhau, tại sao tai người có thể nghe và phân biệt các loại giọng nói, từ ngữ khác nhau. Tất cả những câu hỏi ấy sẽ cần phân tích rõ trước khi tìm hiểu về một mô hình nhận diện giọng nói. Nguyên lý hình thành giọng nói. Trong cuộc sống hằng ngày, giao tiếp là một công việc không thể thiếu đối với mỗi người.
Trong quá trình giao tiếp, từng câu, từng chữ mà ta nói ra đều có một luồng hơi được đẩy lên từ phổi tạo áp lực lên thanh quản (vocal folds). Dưới áp lực đó, thanh quản mở ra giúp luồng không khí thoát ra, sau đó áp lực giảm xuống khiến thanh quản tự động đóng lại. Việc đóng lại như vậy lại khiến áp lực 8 CHƯƠNG 2. KIẾN THỨC NỀN TẢNG tăng lên và quá trình tái diễn liên tục trong một cuộc hội thoại.
Các chu kì đóng và mở thanh quản liên tục tái diễn, tạo ra rung động với tần số cơ bản hình thành nên các sóng, và các sóng này được gọi là sóng âm. Như vậy thanh quản đã tạo ra các tần số sóng âm cơ bản. Tuy nhiên để hình thành lên giọng nói còn cần đến các cơ quan khác như vòm họng, khoang miệng, lưỡi, răng, môi, mũi. Các cơ quan này hoạt động như một bộ cộng hưởng giống hộp đàn guitar, nhưng có khả năng thay đổi linh hoạt.
Bộ cộng hưởng này có tác dụng khuếch đại một vài tần số, và triệt tiêu một vài tần số khác để tạo ra các sóng âm mới. Khả năng thay đổi linh hoạt của bộ cộng hưởng giúp tạo ra các sóng âm khác nhau và được kết hợp lại hình thành nên giọng nói.1 mô tả chi tiết về cơ chế hình thành giọng nói ở con người, các luồng khí từ phổi lên đến thanh quản tạo ra các nguồn âm với các tần số khác nhau. Sau đó thông qua các cơ quan được xem như một bộ lọc (filter), các nguồn âm ban đầu được thay đổi thành các âm thanh thanh mang ý nghĩa mà con người có thể nghe hiểu được, hay còn gọi là giọng nói. Nguồn âm + Bộ lọc → Giọng nói con người.
Cơ chế hoạt động của tai. Như đã giới thiệu trong phần trên, âm thanh, giọng nói mà ta vẫn nghe hằng ngày là một pha trộn của rất nhiều sóng âm với các tần số khác nhau. Các tần số này thường nằm trong khoảng từ 20Hz đến 20.