CHƯƠNG 1. Tổng quan về nấm linh chi Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày các vấn đề xung quanh các nghiên cứu về nấm linh chi. Nguồn gốc, đặc điểm sinh học và phân bố 1. Nguồn gốc Nấm linh chi hay còn được gọi là linh chi thảo, nấm trường thọ, nấm lim, thuốc thần tiên.
Tên khoa học Ganoderma lucidum, thuộc họ Nấm gỗ Ganodermataceae. Nấm linh chi là một dược liệu mà con người từ xa xưa đã biết dùng làm thuốc. Theo tác giả Lý Thời Trân của bộ “Bản thảo cương mục” đã giới thiệu vị linh chi có 6 loại mang màu sắc và tên khác nhau: Thanh chi (linh chi màu xanh), hồng chi (màu hồng) còn gọi xích chi, đơn chi, hoàng chi (còn gọi là kim chi) màu vàng, bạch chi (còn gọi là ngọc chi) màu trắng, hắc chi (còn gọi là huyền chi) màu đen, tử chi – linh chi màu tím [1]. Thể quả nấm linh chi (loài Ganoderma lucidum) Nguồn: BS.
Trần Văn Năm, “Công dụng của nấm linh chi”. Internet: https://www.vn/tin-tuc/thong-tin-vien/cong-dung-cua-nam-linh- chi. Nấm linh chi có thể mọc thành cụm hoặc đơn lẻ. Phần thịt của thể quả nấm có màu nâu, mềm xốp nhưng hóa gỗ theo thời gian.
Thể quả của nấm gồm có hai phần, mũ nấm và cuống nấm (phần phiến đối diện với cuống nấm). Trên mũ nấm có hai vách, bào tử hình thành phía bên trong giữa hai vách. Đây là đặc điểm giúp phân biệt Tổng quan 4 nấm linh chi với các loài khác. Mũ nấm ban đầu có hình chùy, khi trưởng thành có hình bán nguyệt, hình quạt hoặc hình thận, kích thước thay đổi nhiều (dài 3-30 cm, rộng 2-25 cm, dày 0,5-2 cm) [2].
Đặc điểm sinh học Về thực vật, người ta xác định nấm linh chi không phải một loại cỏ, mà là một loại nấm hóa gỗ có cuống dài hoặc ngắn, mũ nấm có dạng hình thận, có dạng hình tròn hay hình quạt. Nấm linh chi thường sống kí sinh trên thân cây gỗ mục rỗng, cây chết hoặc đã chặt hạ đất có mùn gỗ mục và thường là các loài có hệ Enzim mạnh, phân hủy gỗ cây. Vỏ ngoài linh chi khá cứng, nên việc nảy mầm rất khó khăn. Nấm linh chi đa dạng cả về hình dáng, kích thước, tùy điều kiện sống ở mỗi môi trường.
Dựa vào nguồn gốc và đặc điểm màu sắc có thể chia dược liệu thành các nhóm sau: ❖ Phân theo nguồn gốc, vạn niên nhung (nấm linh chi) gồm 4 loại chính: Nấm linh chi Việt Nam: Sinh trưởng và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam. Trong tự nhiên, dược liệu đa phần có màu nâu sẫm tới đen hoặc đen xám. Nấm linh chi Hàn Quốc: Dược liệu được đánh giá cao về chất lượng, hình dáng nấm tròn, đường kính các tai nấm trung bình từ 15 – 30cm, khi sờ vào thấy cứng. Mặt trên nấm có màu đỏ nấm linh chi ngả sang nâu, mặt dưới mang màu vàng chanh, ruột màu vàng nhạt.
Nấm linh chi Nhật Bản: Tai nấm màu đỏ hơi ngả sang tím, bề mặt bóng loáng, mặt dưới mang màu vàng chanh đặc trưng. Khi chạm vào nấm thấy dày và cứng hơn nấm linh chi Việt Nam. Nấm linh chi Trung Quốc: Dáng nấm to, đường kính tai nấm dao động từ 15 – 30cm, có màu đỏ nhạt hoặc vàng nghệ, ruột nấm màu nâu nhạt khi sờ vào thấy cứng. ❖ Theo màu sắc, có thể chia nấm thành 6 loại dưới đây: Tổng quan 5 Xích chi (đỏ): Mang màu đỏ sẫm tự nhiên, là loại nấm được đánh giá cao về chất lượng với tính bình, vị đắng, không độc.
Thanh chi (xanh): Tai nấm có màu xanh, không độc, tính bình, vị chua nhẹ. Vị thuốc đem lại hiệu quả trong tăng cường thị lực, bổ gan, thanh nhiệt giải độc… Hoàng chi (vàng): Có màu vàng nhạt hoặc đậm tùy thuộc vào tuổi nấm. Dược liệu có vị ngọt, tính bình, cho hiệu quả cao trong tỳ khí, bổ phổi, điều hòa cơ thể. Bạch chi (trắng): Nấm có màu trắng đặc trưng, hàm lượng dược tính ổn định, tính bình, vị cay, không độc.
Vị thuốc đem lại hiệu quả cao trong điều tiết cơ thể, an thần, bổ phổi, thông mũi, chữa bệnh ho… Hắc chi (đen): Là loại nấm ít xuất hiện trên thị trường, có tính bình, vị mặn, không độc, cho tác dụng cao trong trị bí tiểu, tăng cường lưu thông máu, hỗ trợ ngăn ngừa ung thư… Tử chi (tím đỏ): Bề mặt nấm có màu tím sậm, mang tính bình, vị ngọt, không độc. Dược liệu thường được sử dụng trong điều trị bệnh xương khớp, tăng cường gân cốt, làm đẹp, dưỡng da. Phân bố Linh chi thường thấy mọc hoang dại ở các vùng cao lạnh ở một số tỉnh của Trung Quốc (Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây,…). Gần đây, trên cơ sở những giống cây hoang dại người ta đã tổ chức trồng theo qui mô công nghiệp để đáp ứng nhu cầu dùng trong nước và xuất khẩu.
Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã tiến hành trồng nhưng khí hậu không thuận lợi như Trung Quốc [1]. Ở Việt Nam, nấm linh chi thường được nuôi trồng bằng mạt cưa gỗ cao su và một số thành phần phế phẩm từ nông nghiệp. Phương pháp trồng phổ biến là dùng túi nhựa. Quá trình nuôi ủ nấm được thực hiện trên các kệ và dây treo.
Ngoài việc tránh các nguồn bệnh còn tăng được diện tích nuôi trồng. Hiện nay, nước ta đã có nhiều cơ sở trồng nấm linh chi để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Thành phần hóa học và công dụng 1. Thành phần hóa học Nấm linh chi không chứa nhiều chất dinh dưỡng tạo năng lượng nhưng lại có các dược chất quý ít có ở các loài nấm ăn khác.
Nhiều công trình nghiên cứu đã định danh được các hoạt chất và xác định tác dụng dược lý của chúng trong thể quả, khuẩn ty, bào tử và dịch nuôi cấy của nấm. Theo Wasser (2010), trong các thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng, Nấm linh chi được cho là có nhiều tác dụng dược lý quý giá. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, chính xác hơn về những tác dụng dược lý này trên cơ thể người. Cho đến gần đây, Nấm linh chi được dùng như thuốc hỗ trợ điều trị bệnh bạch cầu, ung thư biểu mô, viêm gan, và tiểu đường (type II) [3].
Theo Wachtel-Galor và cộng tác viên (2011), loại nấm này có thành phần hoạt chất sinh học khá đa dạng, chứa vitamin, khoáng chất, có tất cả acid amin thiết yếu (đặc biệt giàu leucine và lysine). Hàm lượng chất béo thấp và tỉ lệ acid béo không no cao là một trong những tính chất quan trọng tạo nên giá trị cho nấm linh chi [4]. Không như nhiều loài nấm khác có hàm lượng nước đến 90%, nấm linh chi tươi chỉ chứa khoảng 75% nước. Thành phần chủ yếu của G.
lucidum là chất xơ, carbohydrate, chất béo và protein, trong đó tỉ lệ xơ thô là trên 50% khối lượng khô [3], [5]. Các nghiên cứu cho thấy thể quả, khuẩn ty và bào tử của nấm có chứa khoảng 400 hoạt chất sinh học khác nhau, chủ yếu là các polysaccharide, triterpenoid, nucleotide, acid béo, sterol, steroid, protein/peptide, các nguyên tố vi lượng. Trong nghiên cứu của Mizuno (1995), chiết xuất G. lucidum chứa các kim loại như kali, magnesi, calci, natri, sắt, kẽm, mangan, đồng, selenium và germanium; trong đó kali, magnesi, calci là những thành phần kim loại chính, và germanium đứng thứ 5 trong số các kim loại có hàm lượng cao nhất (489 µg/g).
Các chất khoáng này tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa quan trọng trong cơ thể. Đặc biệt, germanium hữu cơ có khả năng làm tăng khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu, từ đó giúp chữa được nhiều bệnh đồng thời duy trì sức khỏe [6]. Nguyên tố này cũng có nhiều tác dụng dược lý khác, trong đó quan trọng là các khả năng: giải tỏa stress, chống oxy Tổng quan 7 hóa, chống khối u, điều hòa lượng cholesterol trong máu, giải độc, chữa bệnh bạch cầu, ngăn chặn sự phát triển của ung thư hay tác hại của chất phóng xạ, kích thích các interferon(1) chống lại các virus kể cả HIV, kích thích hệ miễn dịch sản sinh các tế bào tiêu diệt tự nhiên (tế bào NK - natural killer cells) và đại thực bào [7], [8]. Polysaccharide và triterpenoid được xem là những hoạt chất quan trọng nhất trong Linh chi [3], [9].
Các thực nghiệm trên người và động vật đã chứng minh khả năng của chúng trong việc phục hồi sức khỏe, ngăn ngừa và chữa trị bệnh, nâng cao sức đề kháng,. Hàm lượng của các hoạt chất sinh học trong các giống Nấm linh chi được trồng nhân tạo có thể tương tự hoặc cũng có thể rất khác so với giống tự nhiên. Có nhiều yếu tố dẫn đến sự khác nhau về tính chất và hàm lượng của thành phần hóa học trong các sản phẩm từ G. lucidum như nguồn gốc, chủng nấm, điều kiện nuôi trồng, phương pháp tách chiết [4].
Dựa vào nhiều kết quả nghiên cứu, Wachtel-Galor et al. (2011) nhận định rằng trong G. lucidum còn có các hợp chất khác được xem là có tác dụng dược lý như một số protein và lectin. Các protein có hoạt tính sinh học đã được phát hiện bao gồm: Ling Zhi-8; G.
lucidum peptide có hoạt tính bảo vệ gan và chống oxy hóa; ganodermin có tác dụng kháng nấm từ thể quả G. Một số lectin được tách chiết từ thể quả và khuẩn ty của Linh chi có khả năng làm đông tụ hồng cầu hoặc tăng cường chức năng miễn dịch. Các thành phần khác gồm enzyme như metalloprotease làm chậm quá trình đông máu; tác nhân ức chế α-glucosidase rất đặc hiệu từ thể quả của Linh chi,. Thành phần các hoạt tính của nấm linh chi được thể hiện trong bảng 1.1 Thành phần các chiết chất hoạt tính ở nấm linh chi Nhóm chất Hoạt chất Hoạt tính Alo *** Trợ tim Polysaccharides b-D-glucan Chống ung thư, tăng tính miễn dịch Ganoderan A, B, C Hạ đường huyết Tăng tổng hợp protein, tăng chuyển D-6 hóa acid nucletic Tổng quan 8 Steroid Ganodosteron Giảm độc gan Lanosporeric acid A Ức chế sinh học tổng hợp cholesterol Lonosteron Triterpenoid Ganodermic acid Mf, Ức chế sinh tổng hợp cholesterol T-O Ganodermic acid R, S Ganodermic acid B, D, Ức chế giải phóng Histamin F, H, K, S, Y… Ganodermadiol Hạ huyết áp, ức chế ACE Ganosporelacton A, B Chống khối u Lucidon A Bảo vệ gan Lucidol Nucleosid Adenosine dẫn suất Ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn cơ, giảm đau Protein Lingzhi-8 Chống dị ứng phổ rộng, điều hòa miễn dịch Acid béo Oleic acid Ức chế giải phóng Histamin 1.