Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Cao Anh Đức với đề tài "Phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam" được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Anh. Công trình thuộc chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (mã số: 9.05).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, mạng Internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh các tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội, sự phát triển này làm nảy sinh nguy cơ từ tội phạm công nghệ cao, đặc biệt là tội sử dụng mạng máy tính (MMT), mạng viễn thông (MVT), phương tiện điện tử (PTĐT) thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (CĐTS) quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Số liệu thực tiễn được tác giả nêu ra để chứng minh tính cấp thiết:
- Số vụ án về tội danh này đưa ra xét xử chiếm hơn 60% tổng số các vụ án trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), MVT quy định tại Mục 2, Chương 21 BLHS năm 2015.
- Trung bình mỗi năm, số vụ án tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS được Tòa án đưa ra xét xử tăng trên 70%.
- Mỗi vụ án trung bình có 187 bị hại; nhiều vụ án có số lượng bị hại lên tới hàng chục ngàn người với số tiền chiếm đoạt hàng ngàn tỷ đồng.
- Tỷ lệ tội phạm ẩn ở mức cao: trên 51% số vụ án đã khởi tố nhưng phải tạm đình chỉ do không phát hiện được người phạm tội (theo số liệu thống kê tại Bảng 1, Phụ lục 1 của luận án).
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ tội phạm học về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS. Thực tiễn áp dụng pháp luật trước ngày 01/01/2018 cho thấy nhiều hành vi phạm tội vẫn bị nhận thức và xử lý không thống nhất, có tình trạng áp dụng Điều 138 (tội trộm cắp tài sản) hoặc Điều 139 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) của BLHS năm 1999 thay vì áp dụng Điều 226b BLHS năm 1999 hoặc Điều 290 BLHS năm 2015.
| Tiêu chí | Nội dung xác định trong luận án |
|---|---|
| Mục đích nghiên cứu | Hệ thống hóa, phân tích các luận cứ lý luận và thực tiễn về phòng ngừa tình hình tội phạm này, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tại Việt Nam trong thời gian tới. |
| Nhiệm vụ 1 | Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; đánh giá tình hình nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục làm rõ. |
| Nhiệm vụ 2 | Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản: đặc điểm pháp lý hình sự, đặc điểm tội phạm học, khái niệm, mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc, nội dung, biện pháp và chủ thể phòng ngừa. |
| Nhiệm vụ 3 | Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng hoạt động phòng ngừa giai đoạn 2013–2022; làm rõ nguyên nhân, điều kiện, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế. |
| Nhiệm vụ 4 | Xây dựng dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa trong thời gian tới. |
| Câu hỏi nghiên cứu 1 | Tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS có gì khác biệt so với tội phạm truyền thống? |
| Câu hỏi nghiên cứu 2 | Tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS có gì khác biệt so với tình hình tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT quy định tại Mục 2 Chương 21 BLHS năm 2015? |
| Câu hỏi nghiên cứu 3 | Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam diễn ra như thế nào, có phù hợp với lý luận tội phạm học và thực tiễn hay không? |
| Câu hỏi nghiên cứu 4 | Cơ sở nào để đề xuất các giải pháp triển khai hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam trong thời gian tới? |
| Giả thuyết nghiên cứu | Tội phạm sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS có nhiều thủ đoạn mới, cần được nghiên cứu để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả. |
| Đối tượng nghiên cứu | Những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS. |
| Phạm vi nội dung | Quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 và Điều 290 BLHS năm 2015 thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm. |
| Phạm vi không gian | Các tỉnh, thành phố tại Việt Nam. |
| Phạm vi thời gian | 10 năm, từ năm 2013 đến năm 2022. |
| Nguồn dữ liệu thực tế | Số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao; 201 bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) các cấp; báo cáo tổng kết của các cơ quan chức năng. |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tác giả đã điểm lại các văn kiện quốc tế và công trình của các học giả nước ngoài liên quan đến tội phạm mạng và phòng ngừa tội phạm công nghệ cao (TPCNC):
- Văn kiện và báo cáo quốc tế: Bản Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm (Phụ lục Nghị quyết 2002/13 của ECOSOC ngày 24/7/2002); Tuyên bố Salvador 2010 về các chiến lược toàn diện với các thách thức toàn cầu (bổ sung cho Nghị quyết 65/230 của Đại hội đồng Liên hợp quốc); Báo cáo Comprehensive Study on Cybercrime của UNODC (2013); Báo cáo của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU, 2012) với tựa đề Understanding Cyber Crime: Phenomena, Challenges and Legal response.
- Sách chuyên khảo quốc tế: Sách của Graeme R. Newman và Ronald V. Clarke (2003) Preventing E-commerce Crime (NXB Willan, Anh); John Townsend (2004) Cybercrime (True Crime) (NXB Raintree Publishers, Anh); David Wall (2007) Cybercrime: The Transformation of Crime in the Information Age (NXB Polity Press, Anh); Joshua B. Hill và Nancy E. Marion (2016) Introduction to Cybercrime: Computer Crimes, Laws, and Policing in the 21st Century (NXB ABC-CLIO Press, Hoa Kỳ); Giáo trình Đại học Florida bang Atlantic do Sameer Hinduja chủ biên (2007) Computer crime investigation in US; Michael Kunz và Patrick Wilson (2007) Computer crime and crime related to computer (NXB Academic Press, Hoa Kỳ); Mohamed Chawki (2005) A Critical Look at the Regulation of Cybercrime; Tác phẩm Chiến lược đấu tranh chống tội phạm của Viện sĩ V. N. Kudriavtsev (NXB Xmôlenxki, 2003).
Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Tác giả phân chia các công trình trong nước thành hai nhóm:
- Nhóm công trình lý luận cơ bản về tội phạm học và phòng ngừa tội phạm: Các giáo trình và sách chuyên khảo của Đào Trí Úc (1994, 2000), Võ Khánh Vinh (1994, 2000, 2013), Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh (2013), Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phạm Văn Tỉnh (2007), Hồ Sỹ Sơn (2021), Nguyễn Ngọc Hòa (2008), Hồ Trọng Ngũ. Các công trình này cung cấp cơ sở lý luận về khái niệm tình hình tội phạm, thông số đo lường (mức độ, cơ cấu, động thái, tính chất), tội phạm ẩn, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, cùng hệ thống các biện pháp phòng ngừa xã hội và nghiệp vụ.
- Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến TPCNC và tội phạm chiếm đoạt tài sản trên mạng: Sách chuyên khảo của Nguyễn Quang Nghĩa và Phạm Hải Bình (2014); Trần Đại Quang (2015) với công trình Không gian mạng tương lai và hành động; Nguyễn Xuân Yêm và Nguyễn Minh Đức (2013); Vũ Nam Hà (1999); Phạm Văn Lợi (2007); Trần Văn Hòa (2011); Vũ Hải Triều (2007); Đề tài cấp Bộ BC.052 do Nguyễn Minh Đức làm chủ nhiệm (2015); Đề tài cấp Bộ do Nguyễn Hòa Bình làm chủ nhiệm (2009); Luận án tiến sĩ của Đào Văn Vạn (2014), Lại Kiên Cường (2014), Trần Đoàn Hạnh (2018), Đỗ Quý Hoàng (2021), Đào Trung Hiếu (2021); Các bài báo khoa học của Nguyễn Viết Mạnh (2008), Nguyễn Minh Đức và Vũ Thị Hương Giang (2013), Nguyễn Minh Đức (2015); Kỷ yếu các hội thảo như Triển lãm Security World (từ 2007), Hội thảo Bộ Công an về phòng chống tội phạm ngân hàng trên mạng (2008), Hội thảo Học viện Cảnh sát nhân dân (2014).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu phòng ngừa TPCNC nói chung hoặc đi sâu vào các lĩnh vực đơn lẻ (thương mại điện tử, đa cấp, ngân hàng, dấu vết điện tử) và tập trung vào biện pháp nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập về tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS (Điều 290 BLHS năm 2015) dưới góc độ tội phạm học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phân tích chuyên sâu các thông số tình hình tội phạm, xác định 7 đặc điểm tội phạm học đặc thù, phân tích nguyên nhân điều kiện từ cả phía nạn nhân và quản lý nhà nước, đồng thời đề xuất phương pháp mới xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các lý thuyết tội phạm học nền tảng:
- Lý thuyết về tình hình tội phạm: Xem xét tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội - pháp lý hình sự, phản ánh qua 4 thông số: mức độ (tình trạng), cơ cấu, động thái (diễn biến), và tính chất; bao gồm phần tội phạm hiện và phần tội phạm ẩn.
- Lý thuyết về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm: Sự tương tác giữa các yếu tố môi trường xã hội/môi trường mạng tiêu cực và đặc điểm nhân thân người phạm tội trong các tình huống cụ thể; kết hợp lý thuyết về nạn nhân học.
- Lý thuyết về phòng ngừa tội phạm: Hệ thống các biện pháp mang tính nhà nước và xã hội tác động triệt tiêu hoặc hạn chế nguyên nhân, điều kiện phạm tội, gồm phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.
- Hệ thống khái niệm pháp lý: Sử dụng các khái niệm theo quy định pháp luật Việt Nam gồm CNTT (Luật CNTT), Không gian mạng (Luật An ninh mạng), Mạng viễn thông (Luật Viễn thông), Phương tiện điện tử và Thương mại điện tử (Luật Giao dịch điện tử), Dữ liệu điện tử và Chứng cứ điện tử (BLTTHS năm 2015), Tội phạm có sử dụng công nghệ cao (Nghị định số 25/2014/NĐ-CP).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp xử lý dữ liệu thực tế theo các chương:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Phương pháp phân tích quy phạm và tổng hợp: Sử dụng chủ yếu trong Chương 2 để làm rõ cấu thành pháp lý hình sự theo Điều 290 BLHS năm 2015 và các khái niệm lý luận tội phạm học.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, thống kê hình sự, so sánh và chuyên gia: Sử dụng trong Chương 3 để khảo sát, phân tích thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng phòng ngừa trong 10 năm (2013–2022) từ dữ liệu thống kê của VKSND tối cao và 201 bản án hình sự sơ thẩm của TAND các cấp.
- Phương pháp hệ thống, dự báo, diễn dịch và quy nạp: Sử dụng trong Chương 4 để xây dựng các nội dung dự báo và đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp.
- Phương pháp mới được tác giả đề xuất: Phương pháp xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính thay cho các phương pháp đo lường truyền thống.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra 5 luận điểm chính được kế thừa:
- TPCNC phát sinh cùng với sự phát triển của CNTT, diễn biến phức tạp, gia tăng về quy mô và hậu quả.
- Công cụ, phương tiện phạm tội mới dựa trên tri thức CNTT và môi trường mạng.
- Phòng ngừa TPCNC phức tạp hơn tội phạm truyền thống do thủ đoạn thay đổi liên tục, môi trường mạng mang tính ẩn danh và phổ biến kỹ thuật phạm tội nhanh chóng.
- Tội phạm có tính chất có tổ chức xuyên quốc gia, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và hoàn thiện tương thích pháp luật.
- Vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan chuyên trách, doanh nghiệp, tổ chức và người sử dụng mạng là yếu tố quyết định.
Chương này cũng xác lập 4 câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
Chương 2 tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý hình sự và đặc điểm tội phạm học của tội danh:
- Đặc điểm pháp lý hình sự (Điều 290 BLHS năm 2015):
- Khách thể: Trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng (hoạt động ổn định của MMT, MVT, PTĐT, an toàn thông tin) và quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Mặt khách quan: Thực hiện 1 trong 12 hành vi cụ thể (sử dụng thông tin tài khoản/thẻ ngân hàng; làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng thẻ giả; truy cập bất hợp pháp tài khoản; lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, giao dịch chứng khoán qua mạng; thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông/internet). Điều luật có điều khoản loại trừ đối với trường hợp cấu thành Điều 173 (trộm cắp) và Điều 174 (lừa đảo). Tội có cấu thành hình thức.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, mục đích bắt buộc là chiếm đoạt tài sản, động cơ vụ lợi.
- Chủ thể: Người có năng lực TNHS, từ đủ 16 tuổi trở lên (từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu TNHS đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 290).
| 7 Đặc điểm tội phạm học của tội phạm theo phân tích của tác giả |
|---|
| 1. Tính mới phát sinh từ ứng dụng CNTT: Công cụ, phương tiện, môi trường ảo mới; lý luận tội phạm học truyền thống khó xử lý triệt để các vấn đề về địa điểm phạm tội, thẩm quyền điều tra và chứng cứ điện tử. |
| 2. Sử dụng tri thức công nghệ làm phương tiện: Đòi hỏi chủ thể phòng ngừa phải sử dụng kiến thức và phương tiện kỹ thuật hiện đại tương xứng. |
| 3. Phi không gian và thời gian: Hành vi có thể thực hiện trong tích tắc (1/1000 giây), tác động tới nhiều nạn nhân ở nhiều quốc gia cùng lúc với thiệt hại tài sản lớn. |
| 4. Tính chất đồng phạm có tổ chức, xuyên quốc gia: Xóa dấu vết điện tử nhanh chóng, triệt để sau khi gây án, gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra. |
| 5. Yếu tố nước ngoài phổ biến: Đối tượng, nạn nhân, hoặc máy chủ chứa dữ liệu điện tử ở nước ngoài, đòi hỏi tương trợ tư pháp và tuân thủ điều ước quốc tế. |
| 6. Môi trường mạng là không gian học tập và liên kết tội phạm: Các đối tượng lợi dụng diễn đàn để chia sẻ công cụ, mua bán dữ liệu thẻ (giá 1–3 USD), thử nghiệm thủ đoạn mới. |
| 7. Khai thác yếu tố lỗi của nạn nhân và sơ hở quản lý: Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dùng và sự lỏng lẻo trong bảo mật, quản lý của các nhà mạng, ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. |
Chương 2 cũng xác định khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam: là tổng thể các biện pháp do cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước nhằm tác động vào nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để ngăn chặn, làm giảm và từng bước đẩy lùi tội phạm.
Chương 3: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng công tác phòng ngừa trong giai đoạn 2013–2022:
- Phần tội phạm hiện: Phân tích cơ cấu, diễn biến từ số liệu của VKSND tối cao và 201 bản án sơ thẩm của TAND các cấp. Chỉ ra các thủ đoạn thực tế phổ biến: skimming gắn tại ATM, sử dụng mã độc đánh cắp bàn phím, tạo website ngân hàng/bán hàng giả mạo, chiếm đoạt quyền quản trị tài khoản mạng xã hội để lừa đảo nạp thẻ/chuyển tiền, kinh doanh tiền ảo, huy động vốn đa cấp trái phép.
- Phần tội phạm ẩn: Tỷ lệ ẩn rất cao; thống kê cho thấy trên 51% số vụ án đã khởi tố phải tạm đình chỉ điều tra do không xác định được bị can hoặc do đối tượng ở nước ngoài, sử dụng danh tính giả mạo.
- Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm: Sự bùng nổ của dịch vụ trực tuyến kết hợp với hạn chế về nhận thức an toàn thông tin của người dân; công tác quản lý tài khoản ngân hàng, SIM rác còn sơ hở; hạ tầng công nghệ của một số cơ quan, doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu bảo mật.
- Thực trạng các biện pháp phòng ngừa xã hội và nghiệp vụ: Đánh giá kết quả tuyên truyền, quản lý nhà nước và hoạt động trinh sát, điều tra của lực lượng chức năng; chỉ ra các hạn chế: biện pháp phòng ngừa chưa theo kịp tốc độ phát triển của tội phạm, thiếu hụt trang thiết bị giám định kỹ thuật số, cơ chế phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế còn vướng mắc về thủ tục.
Chương 4: Dự báo và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam
Chương 4 đưa ra dự báo khoa học và 8 nhóm giải pháp:
- Dự báo: Tội phạm tiếp tục gia tăng về số lượng và mức độ thiệt hại; thủ đoạn sử dụng công nghệ mới (trí tuệ nhân tạo, tấn công dữ liệu lớn, giả mạo sinh trắc học) sẽ xuất hiện nhiều hơn; tính chất xuyên quốc gia ngày càng phức tạp.
- Hệ thống 8 nhóm giải pháp:
- Xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự (đặc biệt là quy định về thu thập, bảo quản, chuyển hóa chứng cứ điện tử) và pháp luật quản lý chuyên ngành.
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng tự phòng ngừa cho người dân khi tham gia môi trường mạng.
- Nâng cao trách nhiệm của các chủ thể phòng ngừa (các bộ ngành, UBND các cấp, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí truyền thông).
- Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về MMT, MVT, PTĐT (quản lý thuê bao viễn thông, kiểm soát mở và sử dụng tài khoản ngân hàng, giám sát thương mại điện tử).
- Tăng cường phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, các nhà cung cấp dịch vụ Internet/Host).
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh, dẫn độ, tương trợ tư pháp về TPCNC.
- Xây dựng lực lượng chuyên trách trong sạch, vững mạnh, có trình độ cao về CNTT và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại.
- Tăng cường và nâng cao hiệu quả các hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ của lực lượng chức năng (điều tra cơ bản trên không gian mạng, quản lý đối tượng, trinh sát kỹ thuật).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận tội phạm học chuyên sâu về tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS theo quy định của Điều 290 BLHS năm 2015.
- Xác định và phân tích 7 đặc điểm tội phạm học đặc thù của loại tội phạm này trong môi trường mạng, phân biệt với các tội phạm truyền thống xâm phạm sở hữu.
- Làm rõ khái niệm, mục đích, nguyên tắc, chủ thể và nội dung của hệ thống biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam.
- Đề xuất phương pháp mới xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội phạm theo đơn vị hành chính thay thế cho phương pháp tội phạm học truyền thống.
Về mặt thực tiễn
- Đánh giá bức tranh thực trạng tình hình tội phạm trong 10 năm (2013–2022) dựa trên nguồn số liệu của VKSND tối cao và 201 bản án sơ thẩm của TAND các cấp.
- Chỉ ra các thông số thực tế về phần tội phạm hiện và phần tội phạm ẩn (hơn 51% vụ án khởi tố bị tạm đình chỉ), phản ánh trung thực mức độ phức tạp của tội phạm.
- Phân tích nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm từ phía cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, sơ hở công nghệ và yếu tố nạn nhân.
- Xây dựng hệ thống 8 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa mang tính khả thi, gắn liền với thực tiễn quản lý nhà nước và hoạt động tố tụng tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi nghiên cứu và các dữ kiện được tác giả trình bày:
- Hạn chế:
- Khảo sát thực tiễn giới hạn trong mốc thời gian 10 năm (2013–2022) và tập trung vào nguồn dữ liệu 201 bản án sơ thẩm hình sự, chưa bao quát toàn bộ các vụ việc xử lý hành chính hoặc các vụ việc bị hại không trình báo.
- Hoạt động điều tra và thu thập dữ liệu điện tử đối với các máy chủ đặt tại nước ngoài còn phụ thuộc vào thủ tục tương trợ tư pháp quốc tế, làm hạn chế khả năng giải quyết triệt để phần tội phạm ẩn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng phương pháp xác định cấp độ nguy hiểm theo đơn vị hành chính đối với các nhóm tội phạm công nghệ cao khác quy định tại Chương 21 BLHS năm 2015.
- Nghiên cứu chuyên sâu về quy trình giám định, chuyển hóa dữ liệu điện tử thành chứng cứ tố tụng hình sự trong bối cảnh công nghệ mới (AI, Blockchain, dữ liệu lớn).
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp quốc tế đa phương trong thu hồi tài sản bị chiếm đoạt qua không gian mạng.
Giá trị tham khảo
Công trình có giá trị tham khảo cho các đối tượng và cơ quan sau:
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo chuyên khảo về lý luận tội phạm học hiện đại và phương pháp xử lý dữ liệu hồ sơ vụ án hình sự.
- Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Các ủy ban của Quốc hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước có thể tham khảo các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chứng cứ điện tử, quản lý thuê bao di động, kiểm soát dòng tiền và an toàn không gian mạng.
- Cơ quan tiến hành tố tụng và thực thi pháp luật: Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Viện kiểm sát, Tòa án các cấp có thể tham khảo các phân tích về phương thức thủ đoạn (skimming, lừa đảo thương mại điện tử, tấn công phi kỹ thuật) và các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ để áp dụng trong thực tiễn công tác.
Câu hỏi thường gặp
1. Hành vi khách quan của tội phạm theo Điều 290 BLHS năm 2015 gồm những nhóm hành vi nào? Theo Điều 290 BLHS năm 2015, có 12 hành vi cụ thể được quy định, bao gồm: sử dụng thông tin tài khoản/thẻ ngân hàng để chiếm đoạt tài sản hoặc thanh toán hàng hóa/dịch vụ; làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng thẻ ngân hàng giả; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, giao dịch chứng khoán qua mạng; và thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
2. Điểm phân biệt cơ bản giữa tội phạm tại Điều 290 BLHS năm 2015 với tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) là gì? Điểm phân biệt cơ bản là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội bắt buộc phải là mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, tác động trong môi trường không gian mạng. Điều 290 BLHS năm 2015 quy định điều khoản loại trừ mang tính kỹ thuật lập pháp: "nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này", giúp phân định ranh giới áp dụng pháp luật rõ ràng giữa tội danh công nghệ cao và tội danh chiếm đoạt truyền thống.
3. Tỷ lệ phần tội phạm ẩn của loại tội phạm này tại Việt Nam được luận án phản ánh qua con số cụ thể nào? Theo số liệu thống kê tại Bảng 1, Phụ lục 1 của luận án, có trên 51% số vụ án về tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS đã được khởi tố nhưng sau đó phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra do không xác định được người thực hiện hành vi phạm tội.
4. Dữ liệu thực tế được sử dụng để phân tích trong luận án gồm những nguồn nào? Luận án sử dụng dữ liệu thu thập trong 10 năm (2013–2022), bao gồm số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 201 bản án xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân các cấp về tội danh này, cùng các báo cáo chuyên đề về kết quả phòng chống tội phạm công nghệ cao của các cơ quan chức năng có liên quan.
5. Phương pháp mới nào về mặt tội phạm học được tác giả đề xuất trong luận án? Tác giả đề xuất phương pháp mới nhằm xác định cấp độ nguy hiểm của tình hình tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi CĐTS phân chia theo từng đơn vị hành chính, thay thế cho cách tiếp cận đo lường truyền thống của tội phạm học, nhằm phục vụ công tác quản lý và phân bổ nguồn lực phòng ngừa phù hợp với đặc thù không gian mạng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của Cao Anh Đức là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện dưới góc độ tội phạm học về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích 7 đặc điểm tội phạm học đặc thù và khảo sát thực tiễn 10 năm (2013–2022) từ 201 bản án sơ thẩm cùng dữ liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, luận án đã làm rõ cơ cấu, động thái, nguyên nhân, điều kiện và tỷ lệ ẩn của loại tội phạm này. Công trình đề xuất 8 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường nghiệp vụ và hợp tác quốc tế nhằm hạn chế nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng.