Chương 1: Một số van dé chung vẻ tội sử dụng mạng máy tinh, mang viễn thông, phương tiện điện tử thực hiên hành vi chiếm đoạt tai sản Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về Tội sử dung trạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành ví chiếm đoạt tài sẵn Chương 3: Thực tiến áp dụng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với tội sử dụng mang máy tính, "mạng viễn thông phương tiện điện từ thực hiển hành vi chiếm đoạt tai sẵn CHUONG1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI SU DỤNG MẠNG MAY TÍNH, MẠNG VIỄN THONG, PHƯƠNG TIEN ĐIỆN TU THỰC HIEN HANH VI CHIEM BOAT TÀI SẢN. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội sử dựng mang máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện từ thục hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Ẵ sử dung mang máy tinh, mang vién thông. _pluương tiện điện từ thực hiện hành vi chiêm đoạt tài sin - Mạng may tính (tiếng Anh là Computer network hay network system).
Theo Khoản 3, Điển 2 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA- BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 của Bộ Công an. ~ Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp — Bộ Thông tin và truyền thông — Viện Kiểm. sát nhân dân tôi cao — Téa án nhân dân tối cao thi: “Mang má tinh Ia tập hop nhiễu may tỉnh Rết nỗi với nhau, có thé chia sỡ dit liệu cho nan". Đây là khái niêm pháp ly vẻ mang máy tính ngăn gon, rổ rang Một mang may tính thông, thưởng gồm nhiễu máy tính, gọi là các tram, được Kết nổi tới một máy tinh chính gọi là máy chủ.
Máy chủ cung cấp cho các máy trạm không gian lưu trữ, chương trình, các dich vụ gửi nhận thư. Các máy tram có thé được kết nối đến may chi bing cáp, đường điên thoại hoặc vé tinh. Dựa vào phạm vì phan bd của mang có thé phân chia ra các loại mang như sau: + Mạng LAN (Local Area Network): Được goi là mang cục bộ, kết nổi các máy tính trong một khu vực bán kính hẹp. Kết nổi được thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao, ví dụ như cáp đồng trục hay cáp quang.
‘Mang LAN thường được sử dung trong nội bộ một cơ quan, tổ chức, trưởng. + Mang MAN (Metropolitan Area Network): La mang đô thi twong tự như mang WAN, nó cũng kết nói nhiều mang LAN. Tuy nhiên, một mang MAN có phạm vi là một thành phổ hay đồ thi nhỏ. Mang MAN sử dụng các mang tốc độ cao dé kết nối các mang LAN của trường hoc, chính phủ, công ty.
bằng cách sử dụng các liên kết nhanh tới từng điểm như cáp quang. + Mạng WAN (Wide Area Network): La mang diện rộng, có phạm vi ‘bao phủ một vùng rộng lớn, có thé là quốc gia hay toàn câu. Mang WAN thường là mang của các công ty đa quốc gia hay toàn câu (mang WAN lớn. nhất hiện nay lả mang Internet).
Mang WAN [a tập hợp của nhiêu mang LAN. và MAN được nỗi lai với nhau thông qua các phương tiên như vệ tinh, sóng, vi-ba, cáp quang, điện thoại. + Mang Intemet: La mang máy tỉnh toàn câu, trong đó các máy tỉnh được kết nổi với nhau thông qua tập chuẩn chung các giao thức gọi là TCP/IP (Transmission Control Protocol/Intemet Protocol). Không cỏ máy tính nào lâm chủ và điều khiển tắt cả.
Mang Intemet là một mang cục bô nhưng ding giao thứcTCP/IP để kết nôi với các máy trong mang - Mạng viễn thông (Telecommunication): Bao gồm những vấn để liên quan đến việc truyén thông tin (rao đổi hay quảng bá thông tin) giữa các đổi tương qua một khoảng cách, nghĩa là bao gồm bắt kỹ hoạt đông não liên quan dén việc phát/nhân tin tức (âm thanh, hình ảnh, chữ viết, đỡ liệu.) qua các phương tiến truyền thông hữu huyền (đường dây kim loại, cáp quang) hoặc vô tuyến (Mobile, Wifi, Radio.) hoặc các hệ thông điện từ khác. Mang viễn thông gồm máy phát là thiết bị có nhiệm vụ tiếp nhân thông tin và chuyển. thành tín hiệu có thể truyền dẫn, kênh truyền la các đường truyền tin hiệu từ máy phát dén máy thu, máy thu là thiết bị nhân tín hiệu vả chuyển nó than thông tin. Mang viễn thông gồm mang điện thoại, điện tin, truyền thanh, truyền hình.
Hiển nay, giữa mang viễn thông và mang máy tinh có sự kết nói với nhau tạo thành mang chung, vi vậy không có su phân định ré rang giữa mạng máy tính vả mạng viễn thông. + Phương tiên điện từ Electronic Means): La những hình thức đơn giãn lưu trữ như nhạc số, ảnh số, phim số đến những phương tiên truyễn. thông phức tap như Intemet, điện thoại di đông hoặc công nghệ không dây (Wireless technology, Blutooth)1 "gin Man Đặc (Chủ bển)C019), Sách chyên Who ~ Lam hin nội bộ: Biểu oa tối nha sử ne cổng nghệ cao & Duc adn hình vi chẩn đo tà vấn — NHững vẫn đỂ ý luận về Hạc ten, Nos Công a aia din, Hà Một Tr33.36 Ở Việt Nam, từ khi hình thành lực lượng chuyên trách phòng, chẳng tôi phạm sử dụng công nghệ cao thi khát niệm về "Tôi pham sử dụng công nghề cao" đã được sử dung phổ biển. Tuy nhiên, xoay quanh khái niệm "Tôi pham.
sử dung công nghệ cao” còn nhiễu quan điểm khác nhau do cách tiếp cân và nhìn nhân khác nhau. Cách tiép cân theo nghĩa rộng ác định tôi phạm sử dụng công nghệ cao gồm các tôi pham khai thác thành tựu của cả các loại công nghệ cao như: công nghệ sinh hoc, công nghệ từ đông hỏa, công nghệ na-n6. chứ Không chỉ có công nghề thông tin, viễn thông Tuy nhiên, cach nhìn nhận này là không phổ biến va cũng chưa phù hợp với thực tế tinh hình. tôi phạm ở Việt Nam.
Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp xác định tôi phạm sử dụng công nghệ cao chỉ gồm những hành vi pham tôi sử dung công nghệ thông tin, mang viễn thông Quan điểm nay phủ hợp với cách nhìn nhận. chung của thể giới va sắt với thực tiễn tỉnh hình tội pham ở nước ta. Do đó, trong bồi cảnh hiện nay chúng ta nên tiép cận khải niệm tội phạm công nghệ cao theo cảch tiép cân hẹp nêu trên ‘Theo quan điểm của các chuyên gia, các nhà khoa học phng, chồng tôi phạm Việt Nam th nin nhận tội pham sử dụng công nghệ cao theo nghĩa hep, tức 14 tội phạm liên quan đến máy tính, mang máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (còn gọi 1a thiết bị sổ), đây là luông quan điểm phổ biển. trên thé giới.
Trên thực té, các khái niệm tội phạm công nghệ cao High-tech crime), tội pham liên quan đến máy tính (Computer-related crime), tôi pham mang (Cyber crime) được sử dụng phổ biển 6 nhiêu nước trên thể giới mặc đủ có một vai điểm khác nhau nhưng nhìn chung nội ham của các khái niệm này đều chỉ các loại tội pham mã trong quá trình thực hiện hảnh vi pham tội déu có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: Như vậy, có thé thấy mọi “Tội phạm mang máy tính” đa số được hiểu lả *Tội phạm sử dung công nghệ cao” 10 Tir những nhận thức lý luận trên, cỏ thể đưa ra khải niêm: “Tôi phạm. sử dụng công nghệ cao là hanh vi nguy hiểm cho 2 hôi, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiển một cách cổ ý bằng việc sử dung tn thức, kỹ. năng, công cụ, phương tiện công nghệ thông tin, truyền thông ở trình độ cao âm pham đến trật tự an ninh, an toàn thông tin, gây thiết hai lợi ích của Nha trước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong va ngoài nước được quy định trong Bộ luật Hình sự vả bị xử lý bằng hình phat” Qua định nghĩa trên, có thể xác định tôi phạm sử dụng công nghệ cao cẩn dua trên một số dấu hiệu cơ bản sau đây. Trước hết, tội phạm sử dung công nghệ cao là một loại tội phạm hình sự, tức nó phải là những hành vi được xc định là tôi pham theo nguyên tắc cia luật Hình sự.
Theo nguyên tắc của Luật Hình sự Viết Nam, để xác định mốt hành vi nào đó có phải là tôi phạm hay không, cũng như có phải a tội pham sử dụng công nghệ cao thì cân. xem hành vi đó có được quy đính trong Bộ luật Hình sự hay không Những hành vi sử dụng công nghệ xâm pham đến trật tơ, an toàn thông tin, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong Bộ luật Hình sự thi han vi d6 không phải là tội pham và đương nhiên cũng không phải la tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trước khi Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bỏ sung năm 2009, các hanh vi sử dung mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản có thể bị xử lý theo một trong bai tội danh: Tội trôm cắp tải sản (Điền 138) và Tôi lửa đão chiếm doat tài sản (Điền 139) BS luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, do tinh đặc thi của loại tội phạm nay khác với các hành.
vi pham tôi được mô tả trong cầu thành tội phạm cơ bản của hai tội danh trên nên trong quá trình áp dung các quy định để xử lý hình sư không théa mãn va Bây ra những tranh cãi, dẫn đến bé lọt tội pham hoặc chưa có sự tương xứng giữa tinh chất của hành vi phạm tội với hình phạt " Ngày 19/6/2009, Quốc hội khóa Xd thông qua Luật sửa 1, bỗ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, đã đưa các hành vi sử dung mang máy tính, mang viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tai sản thuộc hai tội danh: trên xây dưng thành một tôi danh đó 1a “Tội sit chang marg máp tính mang viễn thông, mang Internet hoặc tất bi số thực hiện hành vi chiếm đoạt tat sản” (Điều 226b Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bd sung năm 2009). Theo Khoản 1, Điều 226b Bộ luật Hình sư năm 1999 (sửa đổi, bd sung năm 2009) quy định: Người nào sử dung mạng máy tính, mang viễn thông. mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau, thi bị phat tiền từ 10 triệu đồng dén 100 triệu đồng hoặc phạt tù tit 01 năm đến 05 năm: ~ Sit dụng thông tin về tài khoản, thé ngân hàng của cơ quan, tổ chute, cá nhân đề chiểm đoạt hoặc làm gid thé ngân hàng nhằm chiém đoạt tài sản tia chit thé hoặc thanh toán hàng hóa, dich vụ ~ Truy cập bắt hợp pháp vào tài khoán của co quan, tỗ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.