Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vềan toàn giao thông đườngbộ. Chương 2: Phân tích đánh giá hiện trạng an toàn giao thông đường bộ Chương 3: Đề xuất các giải pháp đồng bộ tăng cường an toàn giao thông đường bộ tạiViệt Nam 4 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục tiêu của phần tổng quan nhằm tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận án, đánh giá những ưu nhược, điểm và tìm ra các điểm còn tồn tại, các khoảng trống của các nghiên cứu này để đề tài tiếp tục hoàn thiện.CÁC NGHIÊN CỨU VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở NƯỚC NGOÀI 1.Một số nghiên cứu về nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn giao thông a/Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn giao thông An toàn giao thông có quan hệ mật thiết với tốc độ, trong đó tốc độ càng cao, xác suất xảy ra va chạm càng lớn và thiệt hại cũng càng lớn. Tổ chức y tế thế giới (WHO) Liên hợp quốc, đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực an toàn giao thông. Một nghiên cứu gần đây của WHOcho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa tốc độ và số tai nạn giao thông theo đó, nếu giảm tốc độ 5% thì sẽ giảm số tai nạn giao thông nghiêm trọng tới 30% [59].
Theo [51], tốc độ càng cao càng làm tăng khả năng xảy ra tai nạn, với mọi mức tốc độ và mọi loại đường, mặc dù các tốc độ và loại đường khác nhau sẽ dẫn đến cường độ tai nạn khác nhau. Nói một cách khác, các tốc độ khác nhau trên cùng một con đường sẽ tương ứng với các xác suất tai nạn khác nhau. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những người điều khiển phương tiện ở tốc độ cao hơn tốc độ trung bình thường có xác suất va chạm cao hơn các lái xe khác. Chưa có bằng chứng rõ ràng về việc lái xe với tốc độ thấp hơn tốc độ trung bình của dòng giao thông có liên quan đến các vụ va chạm hay không.
Tuy nhiên việc điều khiển phương tiện ở tốc độ chậm trên những tuyến đường cao tốc đương nhiên sẽ đặt ra những hiểm họa tiềm ẩn do có sự khác biệt về tốc độ. Bởi vậy một trong những yêu cầu bắt buộc đối với người lái xe ở các nước phát triển là phải có khả năng điều khiển phương tiện ở tốc độ trung bình của dòng giao thông. Ngoài ra người lái xe chạy quá chậm có thể làm cho các lái xe phía sau mất kiên nhẫn,thiếu kiềm chế khi vượt và đây chính là những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới va chạm giao thông. 5 Một số kết quả được công bố bởi [44] tại Thụy Điển cho thấy sự thay đổi trong tốc độ trung bình khoảng 1km/h sẽ dẫn đến thay đổi số tai nạn từ 2% (khi tốc độ giới hạn 120 km/h) tới 4% (khi tốc độ giới hạn 50 km/h).
Kết quả này được kiểm định với rất nhiều số liệu trước và sau khi áp dụng các giải pháp hạn chế tốc độ ở rất nhiều nơi trên lãnh thổ Thụy Điển cũng như trên thế giới. Mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn giao thông ở trên được công nhận ở rất nhiều nước Bắc Âu, cũng như Hà Lan và Australia. Một số nghiên cứu khác tại Anh [37] cũng đưa ra được mối liên hệ tương tự, dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm bởi tác giả Taylor, kết quả nghiên cứu cho thấy khi tốc độ giao thông thay đổi ±1km/h thì tai nạn thay đổi trong khoảng từ 1-4% với các đường đô thị, và 2,5-5,5% đối với các con đường ở ngoại ô. Những con đường có chất lượng mặt đường và tầm nhìn tốt thường có trị số cận dưới.
Trong khi đó chất lượng đường càng xấu, thì biên độ tăng của tai nạn giao thông càng cao. Tốc độ cao còn làm giảm khả năng phản ứng kịp thời của người lái xe. Về mặt tự nhiên, người lái cần có thời gian để tiếp nhận và xử lý thông tin, sau đó quyết định phản ứng như thế nào và cuối cùng thực hiệnphản ứng để đáp lại các yêu cầu từ điều kiện thực tế. Ở tốc độ cao, thời gian và khoảng cách phương tiện di chuyển trong những giai đoạn trên sẽ dài hơn.
Đặc biệt khoảng cách phanh có quan hệ với tốc độ theo hàm số mũ, bởi vậy tốc độ càng cao, cơ hội va chạm càng lớn. Trong một nghiên cứu [37], một mối quan hệtổng quát giữa thay đổi tốc độ và thay đổi về số lượng tai nạn là cứ có sự tăng + 1 km/h về tốc độ sẽ dẫn đến sự tăng + 3% về số tai nạn. Các mối quan hệ định lượng ở trên được xây dựng trong những điều kiện cụ thể và không nhất thiết đúng trong mọi trường hợp. Trong thực tế mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn giao thông phức tạp hơn rất nhiều, giá trị cụ thể của các biến trong mô hình phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như tốc độ hiện tại, loại đường và chất lượng mặt đường.
Tuy nhiên có một xu hướng được khẳng định là với tốc độ càng cao, mức độ tăng của tai nạn càng lớn. Mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn là một hàm mũ. Khi tốc độ tăng, tai nạn sẽ tăng và càng tăng nhanh hơn khi tốc độ ở trị số cao hơn. Hình vẽ dưới đây nhằm mục đích cho thấy có mối liên hệ rõ ràng có tính quy luật giữa số vụ tai nạn và tốc độ (giá trị tốc độ cụ thể phụ thuộc vào từng loại đường) Mối quan hệ này được khái quát hóa trong hình (1-1).
6 Số vụ tai nạn (vụ) Tốc độ (km/h) Hình1-1.Mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn giao thông. Trên cơ sở mối quan hệ giữa động năng và các dữ liệu từ phương pháp thực nghiệm, Nghiên cứu [43]đã xây dựng mô hình phản ảnh quan hệ giữa sự thay đổi tốc độ với số vụ tai nạn: 𝑉2 A2 = A1× (Số vụ tai nạn) [1.1] 𝑉1 Trong đó: A2: Số lượng các vụ tai nạn sau khi thay đổi tốc độ (vụ tai nạn) A1: Số lượng các vụ tai nạn trước khi thay đổi tốc độ (vụ tai nạn) V2: Tốc độ trung bình của dòng giao thông sau khi thay đổi tốc độ (km/h) V1: Tốc độ trung bình của dòng giao thông trước khi thay đổi tốc độ (km/h). Công thức này chỉ áp dụng với những đoạn đường đã có phương tiện lưu thông. Do V1 là tốc độ trung bình của dòng giao thông trên một con đường cụ thể lên V1 luôn lớn hơn 0.
b/Ảnh hưởng của loại đường đến mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn Điều kiện giao thông trên từng đoạn đường có thể có mức độ phức tạp khác nhau. Mức độ phức tạp này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như số lượng và loại nút giao thông trên đường, nhu cầu và hướng di chuyển của người đi bộ, tỷ lệ người đi xe đạp, các phương tiện vận tải khác, số lượng vị trí đỗ xe dọc trên tuyến đường. Trong những điều kiện đường sá phức tạp hơn, xác suất xảy ra tai nạn và quy mô tai nạn cũng cao hơn [47]. Những đường cao tốc 7 thường có mức độ phức tạp thấp (giao cắt khác mức) trong khi các trục quốc lộ vào các đô thị, có cư dân sinh sống hai bên là những khu vực có tính chất phức tạp cao (đi bộ qua đường, đỗ xe.
Rủi ro Loại phức tạp về Loại trung tai bình nạn (vụ) Loại đơn giản Tốc độ (km/h) Hình 1-2. Mối quan hệ giữa loại đường, tốc độ và xác suất xảy ra tai nạn Trên những con đường cụ thể, nếu biên độ dao động tốc độ lớn, có nhiều trở ngại và có nhiều hiện tượng vượt sẽ rất khó dự đoán xác suất xảy ra va chạm sẽ diễn biến theo hướng nào. bởi vậy khi biên độ dao động về tốc độ lớn, cũng dẫn đến gia tăng khả năng xảy ra tai nạn. Do đó nếu một giải pháp hạn chế tốc độ (nhằm đảm bảo ATGT) tạo ra biên độ dao động tốc độ lớn hơn cả về không gian và thời gian, có thể sẽ không tạo được kết quả về an toàn giao thông như mong muốn (ví dụ có những biển báo hạn chế tốc độ đột ngột trên đường cao tốc).
Có nhiều nghiên cứutập trung vào mối quan hệ giữa xác suất tai nạn với người lái và tốc độ. Các nghiên cứu này so sánh tốc độ của người lái xe (người có liên quan đến ít nhất một vụ tai nạn) với tốc độ trung bình trên đoạn đường xảy ra tai nạn đó. Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện tại Mỹ vào những năm 1960-1970. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai loại lái xe nhanh và chậm hơn tốc độ giới hạn (đặc biệt trên các đường cao tốc) đều có xác suất và rủi ro cao hơn mức trung bình.
Kết quả của nghiên cứu này được công bố và được biết đến rộng rãi với biểu tượng đường cong chữ “U”. Tốc độ mà ở đó xác suất xảy ra va chạm thấp nhất được gọi là tốc độ an toàn nhất. Lái xe ở tốc độ thấp hơn hoặc nhanh hơn tốc độ tối ưu đều có xác suất va chạm cao hơn. 8 Rủi ro về tai nạn (số vụ va chạm ) Tốc độ trung bình Tốc độ (km/h) dòng giao thông (km/h) Hình1-3.
Mối quan hệ giữa tốc độ và xác suất xảy ra tai nạn Một nghiên cứu của Australia được thể hiện ở hình1-4. Qua kết quả các nghiên cứu trên, có thể thấy tốc độ hiện tại, cường độ thay đổi tốc độ và chất lượng đường có quan hệ trực tiếp đến số tai nạn trên con đường cụ thể này. Một số nghiên cứu của các nhà khoa học Australia cho thấy rủi ro khi lái xe ở tốc độ cao hơn 10-20 km/h so với tốc độ trung bình của đoạn đường cũng tương tự như rủi ro của việc lái xe khi nồng độ cồn trong máu ở mức giới hạn. Đường đô thị (60 km/h) Đường nông thôn (80-120 km/h) Xác suất va chạm (số vụ) Tốc độ của phương tiện so với tốc độ trung bình của dòng giao thông (km/h) Hình1-4.Mối liên hệ giữa tốc độ của xevới tốc độtrung bình trên từng tuyến đường tại Australia.
9 c/ Quan hệ giữa nồng độ cồn và xác suất xảy ra tai nạn giao thông. Các nghiên cứu cho thấy nếu nồng độ cồn trong máu vượt quá 0.5 g/lítlàm cho người lái xesẽ dễ gây tai nạn.