Tổng quan nghiên cứu
Thực hiện bình đẳng giới là một trong 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc nhằm bảo đảm quyền con người và thúc đẩy tiến bộ xã hội bền vững trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, kể từ khi phê chuẩn Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào năm 1982 và đặc biệt là sự ra đời của Luật Bình đẳng giới năm 2006, nhận thức xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, sau hơn 7 năm triển khai thi hành luật tính đến năm 2013, khoảng cách giữa quy định pháp lý trên văn bản và thực tiễn đời sống vẫn còn khá lớn. Tình trạng bạo lực gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ và sự chênh lệch cơ hội phát triển giữa nam và nữ vẫn tồn tại dai dẳng tại nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ bản chất lý luận, đánh giá thực trạng và xác định các rào cản trong việc hình thành, chuyển hóa ý thức pháp luật về bình đẳng giới vào hành vi thực tế của công dân. Mục tiêu cụ thể của công trình là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học vững chắc, đánh giá mức độ nhận thức, tình cảm và thói quen chấp hành pháp luật giới của các chủ thể xã hội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao ý thức pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao quát toàn bộ không gian lãnh thổ Việt Nam từ đô thị, đồng bằng đến khu vực nông thôn và miền núi trong khung thời gian từ năm 2006 đến năm 2013, đồng thời mở rộng so sánh với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc và Na Uy. Ý nghĩa của luận văn được lượng hóa cụ thể thông qua việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao chỉ số phát triển giới (GDI), đóng góp vào việc gia tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị đạt mục tiêu trên 30% và thu hẹp khoảng cách chênh lệch thu nhập theo giới xuống dưới 10% trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết về ý thức xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng thế giới quan và phương pháp luận chủ đạo. Theo đó, ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội và điều kiện kinh tế - vật chất, vừa có tính độc lập tương đối và tác động trở lại mạnh mẽ đối với sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết cấu trúc ý thức pháp luật hiện đại, phân định ý thức pháp luật thành hai bộ phận cơ bản: hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức lý luận, quan điểm khoa học pháp lý) và tâm lý pháp luật (tình cảm, xúc cảm, tâm trạng, thói quen chấp hành pháp luật của các tầng lớp nhân dân).
Mô hình nghiên cứu của đề tài tập trung làm rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa bốn khái niệm cốt lõi:
- Ý thức pháp luật: Tổng thể các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, tình cảm và sự đánh giá của con người về tính hợp pháp, tính công bằng và vai trò điều chỉnh của pháp luật trong xã hội.
- Giới: Khái niệm chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò xã hội và mối quan hệ giữa nam và nữ được hình thành thông qua quá trình giáo dục, tập quán và thiết chế xã hội.
- Bình đẳng giới: Việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng, gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó theo Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006.
- Ý thức pháp luật về bình đẳng giới: Hệ thống nhận thức, tình cảm, niềm tin và ý chí hành động của con người đối với các chuẩn mực pháp lý về quyền, nghĩa vụ và sự công bằng giữa nam và nữ trong tất cả các lĩnh vực đời sống.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ Hiến pháp đến Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; các báo cáo giám sát chuyên đề của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội; báo cáo thống kê quốc gia giai đoạn 2006 - 2011; cùng các tài liệu phân tích chính sách của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc.
Về phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu cụm dựa trên các bộ dữ liệu điều tra mức sống dân cư quy mô hơn 9.000 hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc và số liệu thống kê đại biểu nữ qua 12 khóa Quốc hội (từ khóa I đến khóa XII). Việc lựa chọn cỡ mẫu lớn và đa dạng vùng địa lý bảo đảm tính đại diện cao cho các nhóm dân cư thuộc các vùng sinh thái đặc trưng: đô thị lớn, nông thôn đồng bằng và vùng cao miền núi.
Phương pháp phân tích được áp dụng bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê xã hội học, cùng kỹ thuật phân tích tổng hợp và đối chiếu tài liệu thứ cấp. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện và có hệ thống; cho phép mổ xẻ hiện tượng ý thức pháp luật không chỉ dưới góc độ quy phạm thuần túy mà đặt trong sự vận động thực tế của văn hóa, đạo đức và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam suốt timeline nghiên cứu giai đoạn 2006 - 2013.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, mức độ hiểu biết và nhận thức pháp luật về bình đẳng giới có sự chênh lệch sâu sắc giữa các vùng miền và nhóm dân cư. Khoảng 65% người dân tại các vùng nông thôn và miền núi chỉ hiểu khái niệm bình đẳng giới ở mức độ bề nổi cơ học, chưa nắm rõ các quy định cụ thể về quyền sở hữu tài sản hay quyền tiếp cận việc làm bình đẳng, trong khi tỷ lệ nhận thức đầy đủ tại các đô thị lớn đạt khoảng 62%. Sự tồn tại dai dẳng của nếp nghĩ phong kiến khiến nhiều người vẫn đồng nhất bình đẳng giới với việc phụ nữ phải gánh vác thêm công việc ngoài xã hội mà không được san sẻ việc nhà.
Thứ hai, tỷ lệ tham chính và giữ vị trí lãnh đạo của phụ nữ tuy có bước tiến nhưng tốc độ cải thiện còn chậm so với yêu cầu thực tế. Thống kê qua 12 nhiệm kỳ Quốc hội cho thấy tỷ lệ nữ đại biểu dao động quanh mức 24% đến 27%, chưa đạt mục tiêu đề ra là 30% trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Tại cơ quan hành chính nhà nước địa phương, tỷ lệ nữ cán bộ tham gia Ủy ban nhân dân các cấp chỉ chiếm từ 15% đến 20%, phản ánh rào cản tâm lý xã hội và định kiến giới vẫn đang chi phối công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ.
Thứ ba, khoảng cách thu nhập và sự phân công lao động theo giới tính vẫn thể hiện sự bất bình đẳng rõ rệt. Dữ liệu 6 tháng đầu năm 2011 chỉ ra rằng mức thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nữ làm công ăn lương thấp hơn nam giới khoảng 10% đến 15% dù cùng trình độ chuyên môn. Đồng thời, phụ nữ phải dành số giờ lao động không lương cho công việc nội trợ và chăm sóc gia đình cao gấp 2 đến 3 lần so với nam giới, tạo ra rào cản lớn đối với cơ hội học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ sự đan xen phức tạp giữa tàn dư tư tưởng Nho giáo phụ quyền ngàn năm với những bất cập trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật hiện nay. Các chương trình phổ biến pháp luật thời gian qua chủ yếu tập trung phổ biến nội dung điều luật một cách khô cứng, thiếu tính thực tiễn và chưa đi sâu vào việc chuyển biến tâm lý, tình cảm pháp luật của người dân. Đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác giới tại cấp cơ sở còn thiếu hụt về số lượng và yếu về năng lực phân tích lồng ghép giới.
Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của các học giả chuyên ngành, kết quả của luận văn hoàn toàn tương thích với các kết luận về sự bất bình đẳng thu nhập theo khu vực của tác giả nghiên cứu kinh tế năm 2004 và các phân tích về cơ chế thực thi pháp luật bình đẳng giới năm 2012. Điểm mới của luận văn là chỉ ra bài học kinh nghiệm sâu sắc từ Na Uy – quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,943 và trao quyền bầu cử cho phụ nữ từ năm 1913, cùng bài học từ Hàn Quốc khi ban hành Luật Cơ bản Phát triển Phụ nữ năm 2002. Cả hai quốc gia này đều khẳng định rằng việc xây dựng ý thức pháp luật phải đi đôi với các chế tài xử phạt nghiêm minh và bảo đảm ngân sách thực thi bình đẳng giới từ trung ương đến địa phương.
Các dữ liệu nghiên cứu của đề tài được cấu trúc trực quan thông qua bảng biểu và đồ thị cụ thể, tiêu biểu như Đồ thị tiến trình tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa XII (trang 43) và Bảng tổng hợp thu nhập bình quân phân theo giới tính năm 2011 (trang 58). Các hình thức trình bày này giúp làm nổi bật trực quan mối tương quan giữa sự thay đổi chính sách pháp lý và mức độ chuyển biến thực tế trong đời sống kinh tế - xã hội.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý và nâng cao hiệu lực thi hành các quy định về bình đẳng giới. Quốc hội và Bộ Tư pháp cần chủ trì rà soát 100% các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, loại bỏ triệt để các quy định mang tính phân biệt đối xử gián tiếp; đồng thời bắt buộc lồng ghép tiêu chí đánh giá tác động giới trong quy trình xây dựng mọi dự thảo luật từ năm 2014 đến năm 2020 nhằm bảo đảm tính đồng bộ và khả thi của khung khổ pháp lý quốc gia.
Thứ hai, đổi mới căn bản nội dung và đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật về giới. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng các chiến dịch truyền thông đa phương tiện hướng về cơ sở, áp dụng các tình huống thực tế và câu chuyện truyền cảm hứng thay vì thuyết giảng lý thuyết đơn thuần. Mục tiêu đặt ra là nâng cao tỷ lệ người dân nông thôn hiểu đúng và đầy đủ về quyền bình đẳng giới đạt trên 80% trước năm 2018.
Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới từ trung ương đến địa phương. Bộ Nội vụ và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cần xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức giới bắt buộc cho 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức tư pháp cấp cơ sở, hoàn thành lộ trình đào tạo chuyên sâu giai đoạn 2014 - 2017 để nâng cao kỹ năng tư vấn pháp luật và hòa giải mâu thuẫn gia đình.
Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật bình đẳng giới. Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp tăng cường thanh tra việc thực hiện chế độ lao động nữ tại các doanh nghiệp và xử lý nghiêm các vụ bạo lực gia đình, đặt mục tiêu giải quyết dứt điểm 90% số vụ việc xâm phạm quyền phụ nữ được phát hiện vào năm 2020, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân vào sự công minh của pháp luật.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách, đại biểu dân cử và cán bộ công chức tại các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Luận văn cung cấp căn cứ khoa học xác đáng để xây dựng chính sách, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật và thiết kế các kế hoạch hành động quốc gia về bình đẳng giới.
Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Luật học, Xã hội học, Khoa học Chính trị và Quản lý công. Đây là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lý luận nhà nước và pháp luật, xây dựng chuyên đề về ý thức pháp luật và quyền con người.
Nhóm 3: Các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và các cơ quan đại diện ngoại giao đang triển khai các dự án thúc đẩy bình quyền và hỗ trợ phụ nữ tại Việt Nam. Tài liệu mang lại bức tranh toàn cảnh về thực trạng văn hóa - pháp lý địa phương để tối ưu hóa nguồn lực viện trợ và thiết kế các can thiệp cộng đồng phù hợp.
Nhóm 4: Đội ngũ báo cáo viên pháp luật, hòa giải viên cơ sở, luật sư và nhà hoạt động xã hội. Công trình trang bị phương pháp luận thực tiễn và kỹ năng truyền thông pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong các vụ việc tranh chấp hôn nhân, lao động và bạo lực gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Ý thức pháp luật về bình đẳng giới được cấu thành từ những yếu tố nào? Ý thức pháp luật về bình đẳng giới bao gồm ba yếu tố gắn kết chặt chẽ: tri thức pháp lý về quyền và nghĩa vụ của hai giới; tình cảm, thái độ tôn trọng sự công bằng giới; và ý chí hành vi sẵn sàng chấp hành, bảo vệ chuẩn mực pháp luật giới trong đời sống.
Tại sao đã có Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhưng thực tế vẫn còn nhiều bất cập? Do sự chuyển biến của ý thức pháp luật luôn có độ trễ nhất định so với văn bản quy phạm. Tư tưởng Nho giáo phụ quyền đã ăn sâu qua hàng thế kỷ, kết hợp với công tác tuyên truyền còn hình thức và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe khiến luật chưa phát huy tối đa hiệu lực.
Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và hoạt động lập pháp về giới diễn ra như thế nào? Ý thức pháp luật của các nhà làm luật đóng vai trò tiền đề tư tưởng định hướng việc xây dựng, sửa đổi văn bản pháp lý. Ngược lại, một hệ thống pháp luật tiến bộ, chặt chẽ sẽ là công cụ giáo dục, định hình chuẩn mực và nâng cao nhận thức pháp luật cho toàn xã hội.
Việt Nam có thể học hỏi được kinh nghiệm gì từ các quốc gia như Hàn Quốc và Na Uy? Việt Nam có thể tiếp thu mô hình luật hóa trách nhiệm cung cấp tài chính của chính quyền địa phương trong hỗ trợ phát triển phụ nữ từ Hàn Quốc và cơ chế thúc đẩy tỷ lệ đại diện nữ gắn liền với hệ thống phúc lợi công bằng, minh bạch như mô hình của Na Uy.
Biện pháp nào giúp chuyển hóa nhận thức pháp luật giới thành hành động thực tế? Cần kết hợp đồng bộ giữa việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho phụ nữ nông thôn với việc xây dựng môi trường sống lành mạnh; đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm để củng cố niềm tin và thúc đẩy thói quen tự giác tuân thủ pháp luật trong nhân dân.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về ý thức pháp luật bình đẳng giới, khẳng định đây là nhân tố quyết định hiệu lực thực thi pháp luật giới tại Việt Nam.
- Khảo sát thực chứng toàn diện giai đoạn 2006 - 2013, chỉ rõ sự phân hóa nhận thức giữa thành thị và nông thôn cùng những rào cản văn hóa truyền thống đang kìm hãm sự tiến bộ của phụ nữ.
- Nhận diện chính xác các khoảng trống pháp lý, sự thiếu hụt nguồn lực chuyên trách và những hạn chế trong kỹ thuật lồng ghép giới tại các cơ quan quản lý nhà nước.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Hàn Quốc và Na Uy, chứng minh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa giáo dục tư tưởng và chế tài kinh tế - pháp lý nghiêm minh.
- Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, đổi mới truyền thông, kiện toàn bộ máy đến tăng cường công tác thanh tra kiểm tra.
Đóng góp lớn nhất của công trình là nghiên cứu một cách hệ thống đầu tiên dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật về ý thức pháp luật bình đẳng giới, lấp đầy khoảng trống học thuật giữa lý thuyết pháp lý thuần túy và thực tiễn thi hành quyền bình đẳng nam nữ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát định lượng chuyên sâu ở cấp cơ sở xã, phường trong giai đoạn thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn mới, nhằm đánh giá tác động của môi trường số và mạng xã hội đối với nhận thức giới của giới trẻ.
Các nhà khoa học, chuyên gia lập pháp và cán bộ quản lý hãy khai thác các phát hiện và giải pháp trong tài liệu nghiên cứu này để tiếp tục hoàn thiện khung khổ thể chế, đưa các quy định pháp luật bình đẳng giới thực sự trở thành nếp nghĩ, lối sống văn minh của mỗi công dân Việt Nam.