CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT. 1ỗ pháp trị, pháp chế là sự tuân thủ và sự phù hợp với pháp luật thì câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: cái gì phải tuân thủ và phù hợp với pháp luật? Và phù hợp với cái gì, tuân thủ cái gì? Trong khoa học pháp lý người ta gọi đó là đối tượng của pháp chế. Giới hạn đối tượng của pháp chế có thể rộng, hẹp khác nhau trong những điều kiện và chế độ chính trị - xã hội và nền dân chủ khác nhau. Về nguyên tắc, đòi hổi của pháp chế là mọi hoạt động, mọi hành vi, mọi văn bản và quyết định đều phải phù hợp với pháp luật.
Nhưng trên thực tế, không phải ở đâu và mọi lúc đều bảo đâm được nguyên tắc đó. Khi nói đến vấn để tuân thủ cái gì, phù hợp với cái gì thì vấn để còn phức tạp hơn. Có một nguyên tắc pháp lý quan trọng trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào là văn bản của cd quan có thẩm quyển thấp hơn phải phù hợp với văn bản của cơ quan có thẩm quyển cao hơn, mỗi văn bản đều phải phò hợp với các văn bản cao hơn nó và tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đều phải phù hợp với biến pháp. Chính vì vậy, chế độ pháp chế đòi hỏi hình thành một trật tự nghiêm ngặt trên - đưới đối với các văn bản quy phạm pháp luật.
Nhưng đây chính là điều khó khăn mà bản thân một hệ thống pháp luật tự tạo ra cho mình và vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà hiện tượng văn bản dưới “vượt thẩm quyền” văn bản trên với trăm ngàn lý do khác nhau vẫn tổn tại trong hệ thống pháp lý của các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thực định. Thêm vào đó, cuộc tranh luận rằng văn bản của các cơ quan hành pháp và các cơ quan quản lý ở địa phương có phải là văn bản quy phạm pháp luật (để rỗi phải “tuân theo”) hay không cứ kéo đài không có hổi kết ở các quốc gia này. Tính không đồng nhất của cái được coi là “pháp luật” cũng đã làm mất đi khả năng được áp dụng trực tiếp của luật và bộ luật, làm phát sinh nhu cầu giải thích và tìm kiếm các quy định của pháp luật mà 16 HOAN THIEN HE THONG PHAP LUAT DAP ỨNG YÊU CẦU. kết quả là hạn chế năng lực sử dụng pháp luật và quyền tiếp cận của pháp luật, của người dân.
Mặt quan trọng tiếp theo của pháp chế là chủ thể của pháp chế. Nói khác đi, ai là người có nghĩa vụ tuân theo pháp luật? Ai có quyển đồi hỏi người khác (chủ thể khác) phải tuân theo pháp luật? Đây là vấn để cốt tử nhất của một nền pháp lý và thực tế đã có những “biệt lệ”, những “ngoại lệ”, những “vùng cấm” hay “tabu” trong lịch sử của các quốc gia. Còn vấn để “ai có quyền đòi hỏi người khác phải tuân theo pháp luật” thì chế độ thực dân phong kiến ở nước ta là một minh chứng rõ, một nền pháp chế mà nói đúng hơn là vô pháp chế, khi thân phận của người dân là chỉ biết có nghĩa vụ đi lính, chịu sưu cao, thuế nặng mà không biết đòi hỏi ai, ở đâu phải có trách nhiệm tôn trọng các quyền về lao động, về an sinh, về tiền công, v. vốn là những nội dung quan trọng của pháp luật.
N gày nay, thực hiện dan chi, đấu tranh phòng, chống quan liêu và tham nhũng cũng có nội dung cơ bản là loại bỏ các đặc quyển, đặc lợi, loại bỏ các “biệt lệ” và vùng cấm của pháp luật theo kiểu đẳng cấp phong kiến. Đo đó, khi nói đến pháp luật thì những tư tưởng lớn của nhân loại đã luôn luôn đi xa hơn yêu cầu về cái được gọi là “tuân thủ pháp luật”. Đó là tư tưởng để pháp luật không thể “được đặt dưới quyển lực của ai đó” (Plato), pháp luật phải thể hiện được “hạn chế sự tự do của Nhà nước” (C. Mác), pháp luật là sự thể hiện “sự đồng thuận của nhan dan” (Rút xô (Rousseau)).
Kể từ năm 1215, ở nước Anh và các thế kỷ sau đó tại những quốc gia vốn chịu ảnh hưởng hay không chịu ảnh hưởng của nước Anh, đã có những tiến bộ quan trọng trong việc tiến tới một mô hình mà ở đó nhà nước được đặt dưới sự CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THONG PHAP LUAT. 17 điều chỉnh của chế độ pháp quyển. Bước tiến sớm nhất ở nước Anh chính là việc vua Giôn (John) đã công nhận Hiến chương Magna Carta vao thang 6-1215. Lần sửa đổi cuối cùng của bản đại Hiến chương này đã được vua Etuét (Edward) dé nhất xác nhận vào năm 1297 và từ đó đã trở thành một trong những luật thành văn đầu tiên và vĩ đại của nước Anh.
Một trong những điều khoản của bản Hiến chương đã thể hiện một đặc điểm quan trọng của học thuyết về nhà nước pháp quyển: “Không một người tự do nào có thể bị bắt giữ hay bị tống giam, bị tước đoạt các quyển hoặc tài sản, bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, hay bị buộc sống lưu vong, bị tước đoạt địa vị; nhà Vua không có quyển sử dụng vũ lực để chống lại người khác hay ra lệnh sử dụng vũ lực trừ khi có phán quyết hợp pháp của những người ngang hàng hay phù hợp với luật pháp của Vương quốc”', Bản Hiến chương Magna Carta chứa đựng một nguyên tắc, theo đó nhà nước, khi đó là vương triểu phong kiến, sẽ phải chịu sự ràng buộc của pháp luật và không được phép tiến hành những hoạt động nhất định chống lại dân thường nếu không có lý do chính đáng. Lý do đó chỉ có thể được tìm thấy trong các quyết định của những người ngang hàng hay trong luật thành văn. Với sự ra đời của học thuyết nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật do nhà nước ban hành giữ vị trí và có hiệu lực chỉ phối bắt buộc không chỉ đối với xã hội và cá nhân công dân mà còn đối với cả nhà nước.
Đây 1RTRllöcBìuHgngTftertØ vente quyén TRƯỜNG ĐẠI HỌ0 LUẬT HÀ NỘI PHÒNG ĐỌC 4. Summers: “A Formal Theory of the Rilé of Law”, Ratio Juris, vol. 18 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU. lực của xã hội, quyển lực của giai cấp cầm quyền với hệ thống các quy tắc ứng xử trong xã hội, là sự kết hợp ý chí của giai cấp cầm quyển với công lý và công bằng.
Quyển lực nhà nước không dựa trên công lý thì chỉ là bạo lực thô bạo. Công lý và lẽ phải mà không có sự bảo dam quyển lực của nhà nước thì chỉ là công lý nủa vời. Nhà nước ban hành pháp luật không chỉ để tổ chức và quần lý xã hội mà còn để tổ chức và quản lý chính nhà nước đó. Pháp luật phải trổ thành công cụ chế ước, quy định, kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của nhà nước.
Nhà nước pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật, chứ không đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là công cụ duy trì sự tổn tại của chính nhà nước. Chức năng, quyển bạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đặt mình trong chế độ pháp quyền, nhà nước sẽ phát huy được sức mạnh của mình.
Nhưng nếu vượt ra ngoài lĩnh vực pháp quyển, nhà nước luôn nằm trong nguy cơ của sự chuyên quyển và mất dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xây dựng trên cơ sở lý trí, trên nền tảng hợp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm pháp lý. Trong nhà nước pháp quyển, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân lại được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm hoặc không quy định. Vượt quá giới hạn cho phép, nhà nước sẽ thoái hóa, biến chất trổ thành “con quái vật” - như Thomas Hobbes khẳng định, cướp đi tự do của con người.
Với nguyên tắc pháp luật:chi: phối; mốt quan hệ giữa công dân và nhà nước cũng có sự thay đổi. Nhà Hước và công đân đều có quyển hạn và nghĩa vụ trước pháp luật. Điều đó đồi hỏi nhà nước và công dân déu phải làm tròn bổn phận của mình trước pháp luật, tức là trước cộng đông và xã hội. CHUONG I: CO SG LY LUAN VE HE THONG PHAP LUAT.
19 Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa - là sự kết tụ của lý trí, sự công bằng và lẽ phải. Pháp luật là một đại lượng chung có tính phổ biến bảo đảm tự do và bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội. Tính quy phạm của xã hội là tính tất yếu được hình thành qua vô số ngẫu nhiên. Pháp luật chứa đựng những giá trị ổn định, chuẩn mực hóa những quan hệ xã hội và có các chức năng đặc biệt là tổ chức, bảo vệ, trọng tài.
Nhà nước pháp quyển quản lý xã hội bằng pháp luật là quản lý bằng ý chí phổ biến của nhân dân được thể chế hóa, chứ không phải bằng chỉ lệnh, luật lệ của cá nhân tùy tiện. Nhờ có pháp luật mà cái vốn là của một giai cấp trở thành của toàn xã hội. Đây tuyệt nhiên không phải là ý chí chủ quan, tòy tiện, sự chiếm đoạt, sự lừa dối hay mánh khóe của cá nhân hoặc một nhóm người cầm quyển, không phải là tiếng nói của kẻ mạnh. Nhà nước và công dân đều tuân thủ pháp luật có nghĩa là cũng tuân theo những “quy tắc chính đáng và vững chắc”.
Vì vậy, quần lý xã hội bằng pháp luật (Rule by law) thì chưa đủ. Nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật mới là một sự tiến bộ, một giá trị xã hội lớn. Đó là quan niệm có tính nền tang của học thuyết về nhà nước pháp quyển. Có thể nói rằng, đây cũng chính là sự thể hiện rõ nét nhất sự khác biệt giữa quan điểm của nhà nước pháp quyển với quan điểm đạo đức Nho giáo.
Các học thuyết về nhà nước pháp quyển xuất phát từ chỗ cho rằng, nhà nước phải đóng cho được vai trò là trung tâm gắn kết của cá nhân và các nhóm xã hội với nhau vì các cá nhân và nhóm xã hội hành động vì những lợi ích riêng rẽ, đễ xâm phạm đến lợi ích của người khác; nhà nước phải công bằng, không thiên vị.