Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN DEN DE TÀI Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chi Minh là một trong những nhiệm vụ cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là vấn đề đã và đang được các nhà nghiên cứu khoa học đặc biệt quan tâm dưới nhiều góc độ và ở những mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, phương pháp tìm hiểu cụ thể. Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến đề tài, bao gồm: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bản chất dân chủ của nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đề cập tới vấn đề bản chất dân chủ của nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới như: Albert Venn Dicey (1960), Giới thiệu về Nghiên cứu Luật Hiến pháp (ITtroducion to the Study of the Law of the Constitution) [145].
Albert Venn Dicey là nhà lập pháp nổi tiếng người Anh khi nghiên cứu và dé cập tới NNPQ. Ông đã chỉ ra § đặc trưng cơ bản của NNPQ gồm: (1) Tính tối thượng của pháp luật, tất cả mọi cá nhân và chính phủ đều phải tuân theo pháp luật; (2) Công ly và quyền con người được đảm bao; (3) Cam ngặt việc thực thi quyền lực tuỳ tiện; (4) Dựa trên lý luận về Tiền lệ án và phương pháp luận Thông luật; (5) Pháp luật cần phải theo hướng vượt trước (prospective) chứ không phải hồi tố; (6) Tư pháp độc lập; (7) Quyền lập pháp do nghị viện thực thi và quyền hành pháp sẽ hạn chế thực thi quyền lập pháp; (8) Tất cả các điều luật phải phù hợp với đạo đức [145]. Bên cạnh những đặc trưng mà A.Dicey nêu ra, Joseph Raz (sinh năm 1939) nhà triết học chính trị, đạo đức và luật pháp gốc Israel, (2009) trong tác phâm Quyền lực của Pháp luật: Các bài tiểu luận về Luật và Đạo đức (The authority of law: Essays on law 9 and morality) [148] bé sung thêm một số đặc trưng nữa, đó là: (1) Bình dang trước pháp luật; (2) Trách nhiệm giải trình; (3) Công bằng trong việc áp dụng pháp luật; (4) Người dân phải được tham gia vào quá trình ra quyết định; (5) Minh bạch về khung pháp luật và thủ tục. Trong tiểu luận, tác giả đã xuất phát từ giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ để lý giải sự tất yếu của việc thực hiện nền dân chủ.
Dân chủ theo tác giả chính là ước mơ của người dan nói riêng và của các quốc trên thé giới nói chung. Dé tránh những hiểu biết lệch lạc, theo tác giả, nội hàm của khái niệm dân chủ bao gồm ba dau hiệu cơ bản sau: (7), Các viên chức chính quyền chủ chốt phải được tuyên chọn trong những cuộc bầu cử công băng và tự do; (2), nhân dân được quyền tự do biểu đạt ý kiến, bao gồm: tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và các loại hình tự do ngôn luận khác; (3), Pháp trị phải chiếm được ưu thế. Nếu một nền dân chủ đảm bảo được ba yêu cầu trên thì đó là một quốc gia dân chủ và nhân dân thực sự trở thành người chủ trong xã hội. Tác giả quan niệm sự phát triển của nền dân chủ từ thời cổ dai cho đến nay có thể xem như là một câu chuyện kết thúc có hậu.
Trên cơ sở trình bày một cách có hệ thống về các mô hình dân chủ trong lịch sử, tác giả đưa ra gợi mở về một mô hình dân chủ quốc tế với nguyên tắc tự trị. Bản chất của nguyên tắc này là: “Mọi người phải được hưởng quyền ngang nhau, và vì vậy phải có trách nhiệm như nhau trong khuôn khổ của các tô chức chính trị tạo ra và hạn chế những cơ hội của họ; nghĩa là họ phải được tự do và bình đẳng trong quá trình thảo luận về điều kiện sống của chính họ và trong việc quyết định những điều kiện này chừng nảo họ không sử dụng tổ chức này nhằm phủ nhận quyền của những người khác” [20, tr. Theo tác giả, mô hình dân chủ mới sẽ tạo ra sự bình đăng về chính trị 10 chứ không chỉ là bình đăng về mặt đạo đức hoặc bình dang trước pháp luật. Dân chủ thực chất nhằm đảm bảo các cá nhân được bình dang tham gia vào quá trình tranh luận và thảo luận công khai về các vấn đề cấp bách của xã hội.
Mô hình dân chủ mới được thực thi thì tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội sẽ được hưởng dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ công dân. Marcus Tullius Cicero (2017), Bàn về chính quyên (On Government) [87]. Marcus Tullius Cicero (106-43 TCN) là nha tư tưởng vĩ đại thời kỳ La Mã. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng về nền cộng hòa của Platon, ông đã nêu lên tư tưởng pháp quyền rất rõ nét.
Ông viết: “Chức năng của một quan chức nhà nước là điều hành cũng như ban hành các chỉ thị công bang, hữu ích và đúng luật. Quả that, có thé nói một cách đúng đắn là: quan chức là luật pháp biết nói, còn luật pháp là quan chức lặng thầm”, “Một dân tộc chỉ có thé được cho là tồn tại khi cá nhân tạo nên nó bị ràng buộc với nhau bởi một mối quan hệ cộng tác được hình thành dựa trên luật” [87, tr. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề bản chất dân chủ của nhà nước và xây dung NNPQ có thể ké đến là: Phạm Quang Định, Phạm Bá Toàn, Nguyễn Đức Hùng (2006) với cuốn sách Dân chủ và thiết chế dân chủ ở Việt Nam [36]. Day là một công trình phân tích sâu sắc và chi tiết van đề dân chủ cũng như thiết chế dân chủ ở Việt Nam.
Trong tác phẩm, các tác giả đã tập trung luận giải nguồn gốc của thuật ngữ “dân chủ”, những nội dung cơ bản của khái niệm dân chủ và thực hiện dân chủ. Các tác giả công trình khang định rang, tùy vào góc độ tiếp cận khác nhau sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về dân chủ. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triển của dân chủ bắt đầu từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội chủ nghĩa, cũng như đã làm rõ sự thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính dân tộc và tính nhân loại trong các giá trị dân chủ trong xã hội có giai cấp. Đặc biệt, các tác giả cũng đã dành một 11 phần không nhỏ trong cuốn sách để phân tích và so sánh dân chủ tư sản với dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đó, nhóm tác giả khái quát một số nguyên tắc, tiêu chi của một xã hội dân chủ va cơ chế dé thực hiện dân chủ. Những nội dung được dé cập trong tác phẩm là những gợi mở cần thiết dé tác giả luận án có thêm những tiếp cận đa dạng về khái niệm, quan niệm về dân chủ cũng như bản chất dân chủ trong chương 2 của luận án. Võ Khánh Vinh (2009), Một số ý kiến về sự thể hiện quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi bồ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [143] đã cho rằng cần “xác định rõ hơn, hệ thống hơn mức độ thể hiện những nội dung của quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển” [143; tr.4] và phân tích rõ ba mức độ thể hiện các quan điểm này. Theo đó, tác giả bài viết cho rằng “cần đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là một bài học lớn của thực tiễn cách mạng nước ta” [143; tr.4]; “nhận thức và xác định rõ những nội dung mang tính định hướng ở tam Cương lĩnh thuộc quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [143; tr.
Đồng thời, tác giả bài viết cũng “xác định rõ những định hướng nội dung lớn về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [143; tr. Trên cơ sở đó, tác giả bài viết khang định “cần xác định rõ những định hướng xây dựng và hoàn thiện các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp, các cơ quan tư pháp, các cơ quan kiểm soát và giám sát quyền lực, các tổ chức tự quản xã hội theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu qua hoạt động: xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có chất lượng trên các phương diện: hệ thống các tổ chức, thiết chế xây dựng và thực thi pháp luật, hệ thống đào tạo luật, nâng cao ý thức văn hóa pháp luật cho cán bộ và nhân 12 dân” [143; tr. Như vậy, với góc tiếp cận khoa học và mang tính thực tiễn cao, bài viết đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu, kế thừa những luận điểm được tác giả đưa ra trong bài viết sẽ góp phần giúp cho tác giả luận án có thêm những luận cứ khoa học trong việc xác định khái niệm và nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Vũ Hoàng Công (2009) trong công trình Xây dung và phát triển nên dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [17] đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trên thế giới và Việt Nam, nhìn nhận đánh giá về kinh tế thị trường và những vấn đề đặt ra cho sự phát triển dân chủ ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những quan điểm, phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.