phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết. 10 z Chƣơng 1 BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ TƢ TƢỞNG V.LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 1. Quan niệm về dân tộc và bình đẳng dân tộc 1. Dân tộc “Dân tộc” là một khái niệm phức tạp trong khoa học xã hội.
Nó không chỉ là đối tượng riêng của ngành dân tộc học mà còn được các ngành khoa học khác như sử học, triết học, nhân học…nghiên cứu. Do vậy, khái niệm “dân tộc” được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ tùy theo nhận thức và cách tiếp cận của mỗi người, mỗi ngành khoa học. Ngày nay, các nhà khoa học đã tương đối thống nhất khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa chính: Thứ nhất, dân tộc được hiểu là cộng đồng quốc gia – dân tộc, dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của quốc gia mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc.
Dân tộc thường được nhận biết qua những đặc trưng cơ bản sau: - Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế: đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc. - Có lãnh thổ chung: dân tộc là một cộng đồng người chung sống với nhau lâu đời trên một vùng lãnh thổ ổn định. Mọi thành viên của dân tộc sống trên lãnh thổ ấy gắn bó với nhau cùng lao động sản xuất để cùng tồn tại và phát triển, đồng thời làm chủ không gian cư trú của mình.
11 z - Có một ngôn ngữ (quốc ngữ) giao tiếp chung: là phương tiện giao tiếp giữa người với người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, tinh thần…Ngôn ngữ thúc đẩy sự hình thành ý thức dân tộc. Tiếng nói, chữ viết chung ấy được gọi là tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ. - Có nền văn hóa chung: biểu hiện kết tinh trong tâm lý dân tộc. Thứ hai, dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (tộc người): là một cộng đồng người có chung nguồn gốc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định với những đặc trưng cơ bản: - Cộng đồng về tiếng nói (tiếng mẹ đẻ): tiếng mẹ đẻ là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau, nó là phương tiện giao tiếp và gắn kết các thành viên trong một cộng đồng tộc người thống nhất, nhờ đó mà văn hóa tộc người được bảo tồn và phát triển.
Trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc – tộc người, sự bảo tồn và phát triển ngôn ngữ tộc người là một đặc trưng quan trọng. - Cộng đồng về văn hóa: những đặc điểm chung về văn hóa hay bản sắc văn hóa tộc người cũng là tiêu chí quan trọng để xem xét, phân định một dân tộc. Những biểu hiện cụ thể của văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần ở mỗi dân tộc phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc đó. Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát triển văn hóa của mỗi dân tộc.
- Ý thức tự giác tộc người: đây là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí xem xét, phân định một dân tộc. Đặc trưng nổi bật ở các dân tộc, tộc người là luôn ý thức về dân tộc mình: từ nguồn gốc đến tộc danh. Đó cũng là ý thức tự khẳng định sự hiện tồn và phát triển của dân tộc dù có nhiều tác động hoặc thay đổi về địa bàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa…Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức dân tộc, tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc. Tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác 12 z nhau ở mỗi dân tộc mà ý thức tự giác tộc người được biểu hiện sinh động và đa dạng.
Ba tiêu chí vừa nêu trên đã tạo sự ổn định trong mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình phát triển tộc người. Đây chính là căn cứ khoa học và thực tiễn giúp xem xét và phân định các dân tộc ở nước ta – một quốc gia đa dân tộc với sự xen kẽ cư dân các tộc người trên lãnh thổ đã hình thành từ lâu đời. Mặc dù khái niệm “dân tộc” được hiểu theo hai nghĩa khác nhau nhưng dân tộc – tộc người và dân tộc – quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bởi lẽ, dân tộc ra đời trong một quốc gia nhất định, thông thường thì những nhân tố chín muồi hình thành tộc người không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia, chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau.
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, dân tộc được định nghĩa như sau: “Dân tộc. Một cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc. Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân tộc, cán bộ dân tộc. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam” [78, tr.
Trong luận văn này, trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng V.Lênin về bình đẳng dân tộc, tác giả tiếp cận khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc – tộc người. Bình đẳng dân tộc * Bình đẳng: Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người luôn có nhu cầu vươn tới sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, giữa các nhóm người, các dân tộc và giữa các quốc gia – dân tộc. “Bình đẳng” là một trong những khái niệm phức tạp, được quan tâm ở tất cả các lĩnh vực. Do đó, có nhiều quan niệm khác nhau về “bình đẳng”.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “bình đẳng được hiểu là sự ngang bằng nhau về địa vị và quyền lợi” [78, tr. 13 z Trong Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, bình đẳng được hiểu là “những điều kiện và những khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển các năng lực và thỏa mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội” [75, tr. Theo Từ điển Triết học, khái niệm bình đẳng phản ánh “vị trí như nhau của con người trong xã hội nhưng cũng chỉ ra sự thay đổi về nội dung khái niệm bình đẳng theo từng thời đại lịch sử và ở những giai cấp khác nhau” [76, tr. Theo đó, nội dung bình đẳng xã hội biến đổi theo không gian, thời gian, nhất là trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp chi phối sự bình đẳng xã hội.
Trong xã hội nguyên thủy, bình đẳng mang tính tự phát. Chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ, vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng tồn tại song song với nhau, bình đẳng nghiêng về giai cấp chủ nô và bất bình đẳng nghiêng về giai cấp nô lệ. Trong xã hội phong kiến, vấn đề bất bình đẳng nổi lên, đó là sự bất bình đẳng giữa hai chủ thể nông dân và các tầng lớp khác nhau của giai cấp phong kiến. Xã hội tư bản chủ nghĩa bắt đầu thức tỉnh về quyền bình đẳng, khao khát bình đẳng và đấu tranh cho sự bình đẳng; khẩu hiệu bình đẳng đã đóng một vai trò tiến bộ trong thời kỳ đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản chống sự bất bình đẳng của giai cấp phong kiến và chống chế độ phong kiến nói chung.
Nhưng sau khi giành được chính quyền, giai cấp tư sản lại chà đạp lên chính khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” mà họ từng giương cao để chống chế độ phong kiến. Khẩu hiệu ấy đã trở thành một phương tiện để lừa phỉnh quần chúng bị áp bức. Theo quan niệm tư sản, bình đẳng chỉ có nghĩa là sự bình đẳng của các công dân trước pháp luật, trong khi vẫn duy trì tệ người bóc lột người, sự bất bình đẳng về tài sản và về chính trị. Thậm chí, họ còn cho rằng: “bình đẳng là ai cũng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu tài sản riêng” [76, tr.
Đó là quan niệm phản động và không tưởng vì nó không bao hàm sự cần thiết phải thủ tiêu giai cấp, thủ tiêu sự bất bình đẳng giai cấp và thủ tiêu chế độ bóc lột. 14 z Chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ chỗ cho rằng, không thể có sự bình đẳng nếu không thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xóa bỏ các giai cấp bóc lột. Sự bình đẳng thực sự trong quan hệ đối với các tư liệu sản xuất chỉ xuất hiện do sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa xã hội đã mở ra điều kiện, khả năng thực tế thực hiện bình đẳng xã hội, song vẫn tồn tại những tàn tích và biểu hiện bất bình đẳng xã hội trên nhiều phương diện, đó là do trình độ phát triển chưa đầy đủ của nền sản xuất vật chất, còn những giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, còn sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn, còn thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động… Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, bình đẳng xã hội không có nghĩa là một sự san bằng nào đó đối với tất cả mọi người, mà nó mở ra những khả năng vô hạn cho mỗi người tự do phát triển năng lực, nhu cầu của mình.
Đó là sự bình đẳng, mà trong đó “mọi người đều sẽ có một địa vị như nhau trong xã hội, một quan hệ giống nhau đối với tư liệu sản xuất, những điều kiện lao động và phân phối như nhau, đều sẽ tham gia tích cực vào việc quản lý các công việc xã hội. Quan hệ hài hòa giữa cá nhân và xã hội sẽ được xác lập trên cơ sở sự thống nhất giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân” [75, tr.