chương 1 trình bày lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh và sự cần thiết phải xây dựng hậu phương miền Bắc. Ở chương 2, tác giả khái quát sự lãnh đạo của Đảng xây dựng hậu phương miền Bắc quá độ lên CNXH và bước đầu chi viện cho miền Nam (1954 - 1964); ở chương cuối cùng, tác giả khái quát công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc trong điều kiện xây dựng CNXH vừa chống CTPH vừa đẩy mạnh chi viện cho miền Nam những năm 1965 - 1975. Tác giả đưa ra quan điểm: “Đảm đương vai trò nền tảng, quyết định tới thắng lợi của cuộc chiến tranh, miền Bắc luôn được củng cố, xây dựng theo phương hương một hậu phương chiến lược” [115, tr. 5], đặc biệt, trong hai giai đoạn gắn với hai giai đoạn chống CTPH của Mỹ, tác giả đã khái quát những chủ trương lớn của Đảng trong việc tiếp tục xây dựng hậu phương miền Bắc trong điều kiện chiến tranh và những kết quả quân dân miền Bắc đạt được trên một số lĩnh vực chủ yếu.
Liên quan đến hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, trong cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập I, do Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề “Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975” của PGS. Ngô Đăng Tri. Chuyên đề đã đề cập ba nội dung chính: một là, vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại; hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975; ba là, những nhận xét chung và kinh nghiệm chủ yếu về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương. Liên quan đến giai đoạn 1965 - 1975, tác giả đã trình bày khái quát đường lối xây dựng hậu phương miền Bắc của Đảng và tập trung trình bày sự chi viện về vật chất của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam.
Tác giả cũng đã chỉ ra được những hạn chế trong công tác xây dựng hậu phương, những nhận xét và một số kinh nghiệm về việc giải quyết vấn đề hậu phương của Đảng trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng rất xác đáng, cung cấp những số liệu đáng tin cậy. Nguyễn Đình Lê cho ra mắt cuốn “Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975”, phác họa khái quát lịch sử Việt Nam trong bối cảnh bị chia tách thành hai miền Nam, Bắc. Cuốn sách có 5 chương và qua nội dung từng chương, 10 z độc giả có thể nắm bắt được những nét cơ bản, quan trọng của lịch sử miền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - VNDCCH), lịch sử miền Nam (Việt Nam Cộng hòa - VNCH), lịch sử của các vùng tự do, vùng tạm chiếm trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Tác giả khẳng định quan điểm: “Mô hình chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, mô hình kinh tế tập trung và chính sách phân phối ở miền Bắc trong thời gian này đã góp phần quyết định đập tan Chiến tranh phá hoại của địch và huy động được sức người, sức của nhanh nhất, hiệu quả nhất cho tiền tuyến” [73, tr.
Vấn đề hậu phương còn được đề cập trong các cuộc Hội thảo khoa học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong bài viết “Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - nguyên nhân và bài học” (Hội thảo kỷ niệm 20 năm ngày toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước) của Vũ Hoàng Dũng, “Góp thêm vai trò, vị trí của miền Bắc trong kháng chiến” của Nguyễn Quý đã nhấn mạnh vai trò của miền Bắc không chỉ là chỗ dựa tinh thần vững chắc đối với nhân dân miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh (nhất là ở những mốc thời gian quan trọng) mà còn thực hiện nhiệm vụ chi viện vật chất, lực lượng to lớn cho tiền tuyến miền Nam. “Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn quân khu IV trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” là tập kỷ yếu Hội thảo khoa học, xuất bản năm 2001, gồm nhiều bài viết của các tướng lĩnh, cán bộ chỉ huy đã trực tiếp chiến đấu, các nhà nghiên cứu trong nước đề cập đến mặt trận giao thông vận tải (GTVT) - phương thức để vận chuyển sự tiếp viện của hậu phương cho tiền tuyến trên địa bàn đặc biệt nhất đó là Quân khu IV. Sự can trường, anh dũng hy sinh cũng như những sáng tạo của quân dân nơi đây trong việc đảm bảo thông suốt con đường chi viện sức người, sức của từ miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam và cho chiến trường quốc tế Lào, Campuchia là hình ảnh sống động, tiêu biểu cho sức sống, sức mạnh bất diệt của hậu phương miền Bắc những năm chống Mỹ.
Cùng đề tài về GTVT trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có cuốn “5 đường mòn Hồ Chí Minh” của GS. Đây là một công trình hết sức đặc biệt không chỉ vì lần đầu tiên miêu tả về “5 đường mòn Hồ Chí Minh” trong việc chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam cũng như trong việc giữ liên lạc giữa miền Nam với miền Bắc, mà còn đặc biệt ở việc tập hợp, xử lý tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Dành gần 20 11 z năm để hoàn thành cuốn sách và đã điền dã qua gần hết những địa điểm đặc biệt quan trọng liên quan đến quá trình hình thành, ra đời, hoạt động của 5 đường mòn Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu Đặng Phong xuất sắc hoàn thành mục tiêu “phơi bày một khía cạnh lịch sử quan trọng của cuộc chiến tranh mà nhiều chỗ vẫn còn chưa được biết tới, hoặc biết rất không đầy đủ: Đó là những hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh” [92, tr. Bằng nguồn tư liệu phong phú, có độ xác thực cao, Đặng Phong phục dựng sinh động 5 con đường giao thông mà miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN) sử dụng vận chuyển của cải, vật chất, nhiên liệu, tiền bạc, lực lượng… cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Qua đây, thấy được sự sáng tạo, kỳ công cũng như sức mạnh to lớn của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng. Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975 - 2005), khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã cho ra mắt ấn phẩm “Hậu phương lớn - Tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)”. Cuốn sách được biên soạn dày dặn, khá công phu, bao gồm những đoạn trích văn kiện Đảng, những bài nói, thư gửi, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; những bài viết tiêu biểu của các nhà nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng; những phân tích từ các công trình trước đây của Viện Lịch sử quân sự. Trong một số nội dung trọng yếu của cuốn sách, ví dụ: về sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ XHCN miền Bắc, về vai trò hậu phương chiến lược của miền Bắc trong 21 năm (1954 - 1975)… có tác dụng gợi mở quan trọng đối với việc khảo cứu vấn đề hậu phương ở miền Bắc.
Năm 2015, NCS Đặng Thị Thanh Trâm đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Đảng lãnh đạo xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc (1965 - 1972)”. Luận án đã tập trung làm sáng tỏ hoàn cảnh hoạch định, thành tựu, hạn chế của các chủ trương, đường lối, giải pháp, biện pháp của Đảng LĐVN trong quá trình xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậu phương của miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam và chiến trường Đông Dương. Luận án cũng đưa ra những đánh giá, nhận xét có sơ sở khoa học về thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc, từ đó rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện nay. 12 z Gần đây nhất là Luận án “Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975” của NCS Trần Như Hiền được bảo vệ thành công năm 2016.
Luận án phục dựng lại quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ Quảng Bình; khẳng định những đóng góp to lớn của Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, dốc sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam những năm 1964 - 1975. Hậu phương còn là vấn đề được đề cập trong rất nhiều bài viết được đăng trên các báo, Tạp chí, chẳng hạn như bài viết “Quan điểm của Đảng về công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của tác giả Nguyễn Hữu Hoạt được đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số tháng 3 năm 2015 đã cho rằng hậu cần đảm bảo cho cuộc chiến tranh nhân dân lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam và đưa ra một số quan điểm của Đảng về hậu cần như sau: một là, công tác hậu cần là một mặt công tác quân sự góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang; hai là, GTVT là công tác trung tâm đột xuất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ba là, hậu cần toàn dân, cần, kiệm, dựa vào sức mình là chính. Những quan điểm đó của Đảng là kim chỉ nam cho công tác xây dựng hậu cần trong cuộc kháng chiến. Tác giả Lê Văn Đạt có bài “Vai trò của thanh niên hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965 - 1975)” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 năm 2005, đã trình bày khái quát vai trò và những đóng góp của tuổi trẻ hậu phương miền Bắc trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tác giả nhấn mạnh các vai trò sau: một là, tuổi trẻ hậu phương miền Bắc hăng hái tòng quân đánh giặc, đi thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh; hai là, thanh niên hậu phương miền Bắc kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần đánh bại cuộc CTPH bằng không quân và hải quân của Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương; ba là, hăng hái tham gia lao động sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh, góp phần vào thắng lợi của cả nước.