Luận án Tiến sĩ về Nhiệm vụ Hậu phương của Đảng bộ Hải Phòng giai đoạn 1965-1975

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đảng bộ hải phòng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1965 đến năm 1975, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

183
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu

1.2. Kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HẢI PHÒNG TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1965 - 1968

2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Phòng và chủ trương của Đảng bộ

2.1.1. Những yếu tố tác động

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ Hải Phòng

2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ Hải Phòng

2.3. Xây dựng những điều kiện để thực hiện nhiệm vụ hậu phương

2.4. Thực hiện nhiệm vụ hậu phương tại chỗ

2.5. Chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HẢI PHÒNG TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1969 - 1975

3.1. Những căn cứ xác định chủ trương và chủ trương của Đảng bộ Thành phố

3.1.1. Những căn cứ xác định chủ trương

3.1.2. Chủ trương của Đảng bộ Hải Phòng

3.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ Hải Phòng

3.3. Đảm bảo các điều kiện thực hiện nhiệm vụ hậu phương

3.4. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hậu phương tại chỗ

3.5. Tích cực chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Đảng bộ Hải Phòng và nhiệm vụ hậu phương

Đảng bộ Hải Phòng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương trong giai đoạn 1965-1975. Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, Hải Phòng không chỉ là một thành phố cảng chiến lược mà còn là một trung tâm quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực cho tiền tuyến. Hải Phòng 1965-1975 chứng kiến sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng bộ trong việc xây dựng và bảo vệ hậu phương, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến. Đảng bộ đã xác định rõ ràng rằng việc xây dựng hậu phương chiến lược không chỉ là nhiệm vụ quân sự mà còn là nhiệm vụ kinh tế, xã hội, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho thành phố và hỗ trợ cho quân đội nhân dân trong cuộc chiến đấu chống Mỹ. Những chủ trương này đã được thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh trong bối cảnh chiến tranh.

1.1. Tầm quan trọng của Hải Phòng trong chiến tranh

Hải Phòng, với vị trí địa lý chiến lược, đã trở thành một mục tiêu quan trọng trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Đảng bộ Hải Phòng đã nhận thức rõ ràng về vai trò của thành phố trong việc cung cấp nhân lực và vật lực cho tiền tuyến lớn miền Nam. Sự lãnh đạo của Đảng bộ đã giúp Hải Phòng duy trì được sự ổn định và phát triển trong bối cảnh khó khăn, đồng thời huy động mọi nguồn lực để chi viện cho cuộc kháng chiến. Các phong trào đấu tranh cách mạng đã được tổ chức rộng rãi, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu của nhân dân, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp cho hậu phương.

II. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ Hải Phòng

Chủ trương của Đảng bộ Hải Phòng trong giai đoạn 1965-1975 tập trung vào việc xây dựng hậu phương chiến lược vững chắc. Đảng bộ đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương. Các chính sách được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh, nhằm tạo ra một nền tảng vững chắc cho cuộc kháng chiến. Đảng bộ cũng đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế địa phương, đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm và vật tư cho quân đội. Sự chỉ đạo của Đảng bộ đã giúp Hải Phòng trở thành một hậu phương mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

2.1. Các biện pháp cụ thể trong lãnh đạo

Đảng bộ Hải Phòng đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ hậu phương. Một trong những biện pháp quan trọng là xây dựng các cơ sở sản xuất, đảm bảo cung cấp đủ hàng hóa cho quân đội và nhân dân. Đồng thời, Đảng bộ cũng đã tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, khuyến khích nhân dân tham gia vào các hoạt động sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động. Các chính sách phát triển kinh tế được thực hiện đồng bộ với việc bảo vệ an ninh, nhằm đảm bảo sự ổn định cho thành phố trong bối cảnh chiến tranh. Những nỗ lực này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ hậu phương.

III. Đánh giá và kinh nghiệm từ quá trình thực hiện nhiệm vụ

Quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ Hải Phòng từ năm 1965 đến 1975 đã để lại nhiều bài học quý giá. Sự lãnh đạo của Đảng bộ không chỉ giúp Hải Phòng vượt qua những khó khăn trong chiến tranh mà còn tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Những kinh nghiệm trong việc huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất và bảo vệ an ninh đã được rút ra và có thể áp dụng cho các giai đoạn phát triển sau này. Đặc biệt, việc phát huy vai trò của nhân dân trong các phong trào thi đua đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

3.1. Những bài học kinh nghiệm

Một trong những bài học quan trọng từ quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương là sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh. Đảng bộ Hải Phòng đã chứng minh rằng việc xây dựng một hậu phương vững chắc không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà còn cần có sự phát triển kinh tế bền vững. Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của nhân dân trong các phong trào thi đua cũng là một yếu tố quyết định, giúp tạo ra sức mạnh tổng hợp cho hậu phương. Những kinh nghiệm này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, khi mà việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn là nhiệm vụ hàng đầu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 trình bày lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh và sự cần thiết phải xây dựng hậu phương miền Bắc. Ở chương 2, tác giả khái quát sự lãnh đạo của Đảng xây dựng hậu phương miền Bắc quá độ lên CNXH và bước đầu chi viện cho miền Nam (1954 - 1964); ở chương cuối cùng, tác giả khái quát công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc trong điều kiện xây dựng CNXH vừa chống CTPH vừa đẩy mạnh chi viện cho miền Nam những năm 1965 - 1975. Tác giả đưa ra quan điểm: “Đảm đương vai trò nền tảng, quyết định tới thắng lợi của cuộc chiến tranh, miền Bắc luôn được củng cố, xây dựng theo phương hương một hậu phương chiến lược” [115, tr. 5], đặc biệt, trong hai giai đoạn gắn với hai giai đoạn chống CTPH của Mỹ, tác giả đã khái quát những chủ trương lớn của Đảng trong việc tiếp tục xây dựng hậu phương miền Bắc trong điều kiện chiến tranh và những kết quả quân dân miền Bắc đạt được trên một số lĩnh vực chủ yếu.

Liên quan đến hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, trong cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập I, do Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản năm 2007 có chuyên đề “Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975” của PGS. Ngô Đăng Tri. Chuyên đề đã đề cập ba nội dung chính: một là, vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến trong chiến tranh hiện đại; hai là, Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến thời kỳ 1945 - 1975; ba là, những nhận xét chung và kinh nghiệm chủ yếu về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ hậu phương. Liên quan đến giai đoạn 1965 - 1975, tác giả đã trình bày khái quát đường lối xây dựng hậu phương miền Bắc của Đảng và tập trung trình bày sự chi viện về vật chất của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Tác giả cũng đã chỉ ra được những hạn chế trong công tác xây dựng hậu phương, những nhận xét và một số kinh nghiệm về việc giải quyết vấn đề hậu phương của Đảng trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng rất xác đáng, cung cấp những số liệu đáng tin cậy. Nguyễn Đình Lê cho ra mắt cuốn “Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975”, phác họa khái quát lịch sử Việt Nam trong bối cảnh bị chia tách thành hai miền Nam, Bắc. Cuốn sách có 5 chương và qua nội dung từng chương, 10 z độc giả có thể nắm bắt được những nét cơ bản, quan trọng của lịch sử miền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - VNDCCH), lịch sử miền Nam (Việt Nam Cộng hòa - VNCH), lịch sử của các vùng tự do, vùng tạm chiếm trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Tác giả khẳng định quan điểm: “Mô hình chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, mô hình kinh tế tập trung và chính sách phân phối ở miền Bắc trong thời gian này đã góp phần quyết định đập tan Chiến tranh phá hoại của địch và huy động được sức người, sức của nhanh nhất, hiệu quả nhất cho tiền tuyến” [73, tr.

Vấn đề hậu phương còn được đề cập trong các cuộc Hội thảo khoa học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong bài viết “Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - nguyên nhân và bài học” (Hội thảo kỷ niệm 20 năm ngày toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước) của Vũ Hoàng Dũng, “Góp thêm vai trò, vị trí của miền Bắc trong kháng chiến” của Nguyễn Quý đã nhấn mạnh vai trò của miền Bắc không chỉ là chỗ dựa tinh thần vững chắc đối với nhân dân miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh (nhất là ở những mốc thời gian quan trọng) mà còn thực hiện nhiệm vụ chi viện vật chất, lực lượng to lớn cho tiền tuyến miền Nam. “Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn quân khu IV trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” là tập kỷ yếu Hội thảo khoa học, xuất bản năm 2001, gồm nhiều bài viết của các tướng lĩnh, cán bộ chỉ huy đã trực tiếp chiến đấu, các nhà nghiên cứu trong nước đề cập đến mặt trận giao thông vận tải (GTVT) - phương thức để vận chuyển sự tiếp viện của hậu phương cho tiền tuyến trên địa bàn đặc biệt nhất đó là Quân khu IV. Sự can trường, anh dũng hy sinh cũng như những sáng tạo của quân dân nơi đây trong việc đảm bảo thông suốt con đường chi viện sức người, sức của từ miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam và cho chiến trường quốc tế Lào, Campuchia là hình ảnh sống động, tiêu biểu cho sức sống, sức mạnh bất diệt của hậu phương miền Bắc những năm chống Mỹ.

Cùng đề tài về GTVT trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có cuốn “5 đường mòn Hồ Chí Minh” của GS. Đây là một công trình hết sức đặc biệt không chỉ vì lần đầu tiên miêu tả về “5 đường mòn Hồ Chí Minh” trong việc chi viện cho cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam cũng như trong việc giữ liên lạc giữa miền Nam với miền Bắc, mà còn đặc biệt ở việc tập hợp, xử lý tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Dành gần 20 11 z năm để hoàn thành cuốn sách và đã điền dã qua gần hết những địa điểm đặc biệt quan trọng liên quan đến quá trình hình thành, ra đời, hoạt động của 5 đường mòn Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu Đặng Phong xuất sắc hoàn thành mục tiêu “phơi bày một khía cạnh lịch sử quan trọng của cuộc chiến tranh mà nhiều chỗ vẫn còn chưa được biết tới, hoặc biết rất không đầy đủ: Đó là những hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh” [92, tr. Bằng nguồn tư liệu phong phú, có độ xác thực cao, Đặng Phong phục dựng sinh động 5 con đường giao thông mà miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN) sử dụng vận chuyển của cải, vật chất, nhiên liệu, tiền bạc, lực lượng… cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Qua đây, thấy được sự sáng tạo, kỳ công cũng như sức mạnh to lớn của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng. Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975 - 2005), khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã cho ra mắt ấn phẩm “Hậu phương lớn - Tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)”. Cuốn sách được biên soạn dày dặn, khá công phu, bao gồm những đoạn trích văn kiện Đảng, những bài nói, thư gửi, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; những bài viết tiêu biểu của các nhà nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng; những phân tích từ các công trình trước đây của Viện Lịch sử quân sự. Trong một số nội dung trọng yếu của cuốn sách, ví dụ: về sự nghiệp chiến đấu, xây dựng và bảo vệ XHCN miền Bắc, về vai trò hậu phương chiến lược của miền Bắc trong 21 năm (1954 - 1975)… có tác dụng gợi mở quan trọng đối với việc khảo cứu vấn đề hậu phương ở miền Bắc.

Năm 2015, NCS Đặng Thị Thanh Trâm đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Đảng lãnh đạo xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc (1965 - 1972)”. Luận án đã tập trung làm sáng tỏ hoàn cảnh hoạch định, thành tựu, hạn chế của các chủ trương, đường lối, giải pháp, biện pháp của Đảng LĐVN trong quá trình xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh hậu phương của miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam và chiến trường Đông Dương. Luận án cũng đưa ra những đánh giá, nhận xét có sơ sở khoa học về thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ, phát huy sức mạnh của hậu phương miền Bắc, từ đó rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện nay. 12 z Gần đây nhất là Luận án “Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975” của NCS Trần Như Hiền được bảo vệ thành công năm 2016.

Luận án phục dựng lại quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Đảng bộ Quảng Bình; khẳng định những đóng góp to lớn của Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, dốc sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam những năm 1964 - 1975. Hậu phương còn là vấn đề được đề cập trong rất nhiều bài viết được đăng trên các báo, Tạp chí, chẳng hạn như bài viết “Quan điểm của Đảng về công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của tác giả Nguyễn Hữu Hoạt được đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số tháng 3 năm 2015 đã cho rằng hậu cần đảm bảo cho cuộc chiến tranh nhân dân lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam và đưa ra một số quan điểm của Đảng về hậu cần như sau: một là, công tác hậu cần là một mặt công tác quân sự góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang; hai là, GTVT là công tác trung tâm đột xuất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ba là, hậu cần toàn dân, cần, kiệm, dựa vào sức mình là chính. Những quan điểm đó của Đảng là kim chỉ nam cho công tác xây dựng hậu cần trong cuộc kháng chiến. Tác giả Lê Văn Đạt có bài “Vai trò của thanh niên hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965 - 1975)” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 năm 2005, đã trình bày khái quát vai trò và những đóng góp của tuổi trẻ hậu phương miền Bắc trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tác giả nhấn mạnh các vai trò sau: một là, tuổi trẻ hậu phương miền Bắc hăng hái tòng quân đánh giặc, đi thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh; hai là, thanh niên hậu phương miền Bắc kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần đánh bại cuộc CTPH bằng không quân và hải quân của Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương; ba là, hăng hái tham gia lao động sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh, góp phần vào thắng lợi của cả nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến sĩ về Nhiệm vụ Hậu phương của Đảng bộ Hải Phòng giai đoạn 1965-1975 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Sâm, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Nguyễn Thị Mai Hoa, là một nghiên cứu sâu sắc về vai trò và nhiệm vụ của Đảng bộ Hải Phòng trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các hoạt động của Đảng bộ trong việc hỗ trợ tiền tuyến mà còn phân tích những thách thức và thành tựu trong giai đoạn này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà Đảng bộ đã tổ chức và triển khai các hoạt động hậu phương, từ đó rút ra bài học cho công tác lãnh đạo hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Phân tích chiến lược kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng dựa trên nội dung toàn dân và sức mình, nơi phân tích nội dung kháng chiến và vai trò của toàn dân trong cuộc chiến. Bên cạnh đó, Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa đất nước cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển mình của Đảng trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về lãnh đạo công tác tư tưởng của đảng bộ quân đội từ năm 1960 đến 1968 sẽ cung cấp thêm góc nhìn về công tác tư tưởng trong quân đội, một phần quan trọng trong nhiệm vụ hậu phương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Đảng trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.