Tổng quan luận án

Công tác tư tưởng (CTTT) trong Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) là một bộ phận của CTTT thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vị trí hàng đầu trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT). Giai đoạn 1960 - 1968, đế quốc Mỹ từng bước đẩy chiến tranh xâm lược lên nấc thang cao với hai chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ”. Đồng thời, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nảy sinh những bất đồng, mâu thuẫn quan điểm, xuất hiện xu hướng của chủ nghĩa xét lại hiện đại. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, lấy xây dựng tư tưởng làm nền tảng nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần của lực lượng vũ trang. Thực tiễn lãnh đạo CTTT của Đảng bộ Quân đội (ĐBQĐ) giai đoạn này đã đạt được những thành tựu căn bản nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế, để lại nhiều kinh nghiệm cần tổng kết.

Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”; cùng với yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, việc nghiên cứu có hệ thống sự lãnh đạo CTTT thời kỳ 1960 - 1968 mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn rõ rệt. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Đã có nhiều công trình nghiên cứu CTTT nói chung hoặc CTTT quân đội trong kháng chiến chống Mỹ dưới góc độ biên niên, tổng kết CTĐ, CTCT hoặc hoạt động tuyên huấn, nhưng chưa có công trình độc lập, hệ thống nào làm rõ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT từ năm 1960 đến năm 1968 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT từ năm 1960 đến năm 1968, từ đó đúc kết những kinh nghiệm phục vụ cho công tác lãnh đạo tư tưởng trong quân đội hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu (5 nhiệm vụ theo văn bản):

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của ĐBQĐ về CTTT (1960 - 1968).
  3. Trình bày có hệ thống và phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của ĐBQĐ về CTTT từ năm 1960 đến năm 1968.
  4. Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT (1960 - 1968).
  5. Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT (1960 - 1968).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ trong những năm 1960 - 1968.
  • Phạm vi nội dung: Chủ trương của ĐBQĐ về CTTT và sự chỉ đạo trên 4 mặt công tác cơ bản: (1) Giáo dục chính trị (GDCT); (2) Tuyên truyền, cổ động, thi đua; (3) Văn hóa, văn nghệ; (4) Báo chí, xuất bản.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 7-1960 (Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ nhất) đến tháng 12-1968 (đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ). Có liên hệ nội dung trước và sau khoảng thời gian này để phục vụ so sánh, đánh giá hệ thống.
  • Phạm vi không gian: Trên lãnh thổ Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và khảo cứu các công trình nghiên cứu theo các nhóm:

1. Các công trình của tác giả nước ngoài

  • Nhóm nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản: Các công trình về Đảng Cộng sản Liên Xô [231], Đảng Nhân dân cách mạng Lào [230]; tác phẩm của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ đổi mới [5] phân tích vai trò, 5 trọng điểm và phương thức tuyên truyền tư tưởng.
  • Nhóm nghiên cứu về CTTT trong quân đội do Đảng Cộng sản lãnh đạo: Các công trình của A. [65], [66] về CTTT của cơ quan chính trị trong Quân đội và Hải quân Liên Xô; tác phẩm Lênin Đảng Cộng sản Liên Xô bàn về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang [80]; Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng (1998), Xây dựng văn minh tinh thần với Quân đội Trung Quốc [226]; Khămphong Saynhaphôn (2006) nghiên cứu bản lĩnh chính trị cán bộ Học viện Quốc phòng Cayxỏn Phômvihản [127]; Thimsảo Đuôngchămpa (2014) nghiên cứu nâng cao chất lượng GDCT tại các trung đoàn bộ binh QĐND Lào [64].

2. Các công trình của tác giả trong nước

  • Nhóm nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và bài học [2]; Trần Trọng Tân (1995), Góp phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng [129]; Đào Duy Tùng (1999), Một số vấn đề về công tác tư tưởng [227]; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001), Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 - 2000 [7]; Phùng Thị Hiển (2004), Công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ: Thành công và kinh nghiệm [70] và luận án (2008) Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở miền Bắc (1960 - 1975) [71]; Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Lịch sử 80 năm Ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) [4]; Đào Duy Quát (2010), Công tác tư tưởng [99]; Lã Quý Đô (2013), Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954 [63]; Trần Thị Anh Đào (2014), Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng [62].
  • Nhóm nghiên cứu liên quan đến CTTT trong Quân đội nhân dân Việt Nam: Tổng cục Chính trị (1990), Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975 [100]; Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1998), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975 [103]; Tổng cục Chính trị (2002), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2000) [104]; Tổng cục Chính trị (2004), Lịch sử Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I (1944 - 1975) [105]; Nguyễn Hoàng Nhiên (2006) về xây dựng quân đội về chính trị trong kháng chiến chống Pháp [97]; Cục Tư tưởng - Văn hóa (2006), Lịch sử công tác tư tưởng - văn hóa trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2004) [222]; Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2010), Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, (1955 - 1975) [45]; Cục Tuyên huấn (2014), Lịch sử Cục Tuyên huấn (1946 - 2014) [224]; Đinh Xuân Dũng (2016), Công tác tư tưởng - văn hóa trong xây dựng Quân đội về chính trị [43]; Cục Tuyên huấn (2018), Tài liệu nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [225].

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận dưới dạng tổng kết lịch sử CTĐ, CTCT, lịch sử tổ chức chuyên môn hoặc nghiên cứu các vấn đề nghiệp vụ riêng lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Phục dựng toàn diện, có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo cụ thể của ĐBQĐ trên cả 4 mặt công tác tư tưởng từ năm 1960 đến năm 1968, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về CTTT nói chung, CTTT trong quân đội nói riêng. Khái niệm CTTT trong quân đội được xác định là một bộ phận của CTTT của Đảng, là mặt hoạt động cơ bản của CTĐ, CTCT nhằm xác lập hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, xây dựng bản lĩnh chính trị và nhân cách quân nhân cách mạng.
  • Cơ sở thực tiễn: Hệ thống các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch công tác, báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương (QUTW), Tổng cục Chính trị (TCCT), Cục Tuyên huấn (CTH) và các cơ quan, đơn vị toàn quân về CTTT giai đoạn 1960 - 1968.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử (phân kỳ, làm rõ bối cảnh và diễn tiến hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực tiễn theo thời gian) kết hợp phương pháp logic (xâu chuỗi văn kiện, khái quát bước phát triển tư duy nhận thức, đánh giá ưu/hạn chế và đúc kết kinh nghiệm).
    • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh (so sánh giữa hai giai đoạn 1960 - 1965 và 1965 - 1968; so sánh CTTT quân đội với CTTT cả nước); phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê tài liệu lịch sử.
  • Nguồn tư liệu: Văn kiện Đảng toàn tập, các nghị quyết của QUTW, văn bản chỉ đạo của TCCT, CTH, tài liệu lưu trữ quân sự, các công trình tổng kết lịch sử và nghiên cứu chuyên khảo đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung: CTTT của các Đảng Cộng sản, CTTT trong quân đội các nước XHCN, CTTT của ĐCSVN và CTTT trong QĐNDVN. Tác giả đánh giá kết quả đạt được về mặt tư liệu, phương pháp tiếp cận và nội dung; đồng thời xác định 4 vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết:

  1. Phân tích các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ (1960 - 1968).
  2. Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ đối với CTTT qua hai giai đoạn 1960 - 1965 và 1965 - 1968 trên 4 mặt công tác.
  3. Đánh giá ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ.
  4. Đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử để vận dụng vào giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng (1960 - 1965)

Chương 2 làm rõ vị trí, vai trò, phương thức CTTT trong QĐNDVN và các yếu tố bối cảnh tác động:

  • Yếu tố bối cảnh: Tình hình quốc tế xuất hiện mâu thuẫn Xô - Trung và ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại hiện đại; trong nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam). Đường lối được định hình qua Nghị quyết Đại hội III của Đảng (9-1960), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (12-1963) về đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại và khắc phục tư tưởng hữu khuynh, cùng Nghị quyết số 95-NQ/TW của Bộ Chính trị (2-1964).
  • Chủ trương của ĐBQĐ: Thể hiện qua Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ nhất (7-1960), Nghị quyết số 30/QU-TW (2-1961) và Nghị quyết số 43/QU-TW (4-1964) về điều chỉnh Kế hoạch 5 năm (1961 - 1965). ĐBQĐ xác định phương hướng bồi dưỡng tư tưởng vô sản, quét sạch ảnh hưởng của tư tưởng xét lại, chống tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, chuyển trạng thái từ hòa bình sang sẵn sàng chiến đấu.
  • Nhiệm vụ và chỉ tiêu trên 4 mặt công tác theo Kế hoạch 5 năm (1961 - 1965):
    • Giáo dục chính trị: Hoàn thành căn bản việc giáo dục lý luận Mác - Lênin có hệ thống cho cán bộ. Cán bộ chính trị học các lớp 1-2 năm tại Trường Chính trị trung cao; cán bộ quân sự/chuyên môn học lớp ngắn hạn 4-6 tháng hoặc 1 năm; cán bộ lãnh đạo cao cấp nghiên cứu sâu 3 tháng/năm; cán bộ sơ cấp học tại các trường quân khu, quân binh chủng; kết hợp chặt chẽ với GDCT tại chức cho chiến sĩ.
    • Tuyên truyền, cổ động, thi đua, phát thanh thông tin: Đưa công tác thông tin quân đội thành bộ phận chính thức của Việt Nam Thông tấn xã; duy trì phát thanh hàng ngày, chuyển các buổi phát thanh thứ Hai hàng tuần thành chuyên mục; trang bị phương tiện truyền thanh phục vụ đơn vị phân tán và tập trung.
    • Văn hóa, văn nghệ: Phát triển phong trào sáng tác văn học; củng cố Tạp chí Văn nghệ quân đội; xây dựng đội văn công nghiệp dư ở cấp trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn và nhà trường; phát triển điện ảnh và phân xưởng dựng phim.
    • Báo chí, xuất bản: Tách Nhà xuất bản ra khỏi Tạp chí Văn nghệ để thành lập Nhà xuất bản của Bộ Quốc phòng; quy định Báo Quân đội nhân dân ra hàng ngày (4 trang) từ năm 1962; thiết lập hệ thống tủ sách ở đại đội, phòng đọc sách ở trung đoàn và Thư viện Trung ương Bộ Quốc phòng.
Lĩnh vực hoạt động Chỉ tiêu năm 1960 Chỉ tiêu/Quy hoạch đến năm 1965
Biên chế đoàn văn công toàn quân 630 người 750 – 830 người
Sản lượng in ấn xuất bản 40 – 50 cuốn/tháng 80 – 100 cuốn/tháng
Dung lượng trang in hàng năm 4.000 trang/năm Tăng thêm 8.000 trang/năm
Định kỳ phát hành Báo QĐND Định kỳ cách nhật Xuất bản hàng ngày, 4 trang (từ 1962)
Tạp chí Văn nghệ quân đội Định kỳ không cố định Phát hành 1 kỳ/tháng kèm tài liệu dịch

Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về tăng cường công tác tư tưởng (1965 - 1968)

Chương 3 trình bày sự chuyển hướng chỉ đạo khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc:

  • Tình hình mới đòi hỏi ĐBQĐ phát động các phong trào CTTT với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
  • Chỉ đạo CTTT chuyển mạnh sang phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chiến đấu ác liệt trên cả hai miền:
    • GDCT: Tập trung quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; bồi dưỡng tinh thần dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng Mỹ; kiên định lập trường giai cấp trước bom đạn và hy sinh.
    • Tuyên truyền, cổ động, thi đua: Đẩy mạnh phong trào thi đua “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, xây dựng các đơn vị “Quyết thắng”, tuyên dương các gương chiến đấu dũng cảm, kịp thời truyền đi các tấm gương dũng sĩ diệt Mỹ.
    • Văn hóa, văn nghệ: Hướng mạnh về cơ sở và tiền tuyến; các đội văn công, đội chiếu bóng cơ động phục vụ trực tiếp tại các trận địa phòng không, đường Trường Sơn và chiến trường miền Nam.
    • Báo chí, xuất bản: Kịp thời đưa tin chiến thắng, xuất bản tài liệu phổ biến kinh nghiệm chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch, duy trì nền nếp đọc báo, nghe đài ở từng chiến hào, góp phần phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết toàn diện quá trình lãnh đạo của ĐBQĐ từ năm 1960 đến năm 1968:

  • Ưu điểm: ĐBQĐ đã nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng; bám sát diễn biến chiến trường để chuyển hướng tư tưởng kịp thời; kết hợp đồng bộ các hình thức GDCT, tuyên truyền cổ động, văn hóa nghệ thuật và báo chí xuất bản; xây dựng ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ cho toàn quân.
  • Hạn chế: Trong công tác chỉ đạo có thời điểm, có chiến dịch còn mang tính chủ quan, phiến diện; một số nơi nhấn mạnh thuận lợi một chiều, chưa chuẩn bị kỹ tâm lý đối phó với khó khăn ác liệt kéo dài dẫn đến bị động tư tưởng bước đầu; việc nắm bắt và xử lý diễn biến tư tưởng nảy sinh ở một số đơn vị cơ sở có lúc chưa thật nhạy bén.
  • Các bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Kiên định giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội trong CTTT.
    2. Nắm vững tính đảng, tính giai cấp, tính chiến đấu và tính khoa học; gắn giáo dục lý luận Mác - Lênin với thực tiễn chiến đấu và xây dựng quân đội.
    3. Kết hợp chặt chẽ CTTT với công tác tổ chức, công tác chính sách và thực tiễn hoạt động quân sự.
    4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ các lực lượng, phương tiện, phương thức CTTT (kết hợp chặt chẽ giữa GDCT, tuyên truyền cổ động, văn hóa văn nghệ, báo chí xuất bản).
    5. Thường xuyên chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm CTTT có bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới của luận án:

  • Cung cấp nguồn tư liệu và hệ thống hóa các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, QUTW, TCCT về CTTT trong quân đội từ năm 1960 đến năm 1968.
  • Tái hiện có hệ thống, phân tích làm rõ bước phát triển trong chủ trương và sự chỉ đạo cụ thể của ĐBQĐ trên 4 mặt công tác tư tưởng qua hai giai đoạn chiến lược (1960 - 1965 và 1965 - 1968).
  • Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về thành công và hạn chế của ĐBQĐ trong lãnh đạo CTTT thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
  • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo khoa học phục vụ công tác xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị, tư tưởng trong bối cảnh hiện nay.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Vận dụng các kinh nghiệm lịch sử vào việc đổi mới nội dung, phương thức GDCT và định hướng tư tưởng cho bộ đội trong tình hình mới.
  • Nâng cao tính chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.
  • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa, phương tiện báo chí, xuất bản nhằm đáp ứng đời sống tinh thần của bộ đội trong điều kiện tác chiến công nghệ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian 1960 - 1968 và tập trung vào 4 mặt công tác tư tưởng cơ bản dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Các tư liệu khai thác tập trung chủ yếu ở cấp chỉ đạo chiến lược của ĐBQĐ, QUTW, TCCT mà chưa đi sâu vào từng chiến trường đặc thù ở miền Nam hoặc từng đơn vị cơ sở độc lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo CTTT của ĐBQĐ trong giai đoạn 1969 - 1975 để hoàn thiện bức tranh toàn diện về CTTT trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; hoặc đi sâu nghiên cứu CTTT theo từng quân chủng, binh chủng đặc thù (Phòng không - Không quân, Hải quân) và các hướng chiến dịch lớn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Công tác đảng - công tác chính trị tại các học viện, nhà trường quân đội và hệ thống các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học xã hội.
  • Nội dung giá trị: Hệ thống tư liệu lưu trữ về các nghị quyết của QUTW, quy hoạch Kế hoạch 5 năm (1961 - 1965) về xuất bản, báo chí, văn công; phương pháp luận phân tích CTTT trong điều kiện chuyển hướng chiến lược chiến tranh; các bài học kinh nghiệm về kết hợp CTTT với công tác tổ chức và chính sách.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định phạm vi thời gian nghiên cứu dựa trên những căn cứ lịch sử nào?
Trả lời: Luận án chọn mốc mở đầu là tháng 7-1960 (thời điểm ĐBQĐ tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, đề ra phương hướng lãnh đạo toàn diện trong đó có CTTT giai đoạn 1960 - 1965) và mốc kết thúc là tháng 12-1968 (thời điểm quân và dân Việt Nam đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ).

2. Bốn mặt công tác cơ bản của công tác tư tưởng được luận án tập trung khảo sát là gì?
Trả lời: Bốn mặt công tác cơ bản gồm: (1) Giáo dục chính trị; (2) Tuyên truyền, cổ động, thi đua; (3) Văn hóa, văn nghệ; (4) Báo chí, xuất bản.

3. Bối cảnh quốc tế giai đoạn 1960 - 1965 có những yếu tố phức tạp nào tác động đến công tác tư tưởng trong quân đội?
Trả lời: Bối cảnh quốc tế thời kỳ này nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn về quan điểm trong hệ thống XHCN và phong trào cộng sản quốc tế, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc; sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại và xu hướng hòa hoãn của các nước lớn, gây tác động tiêu cực đến tâm lý, tư tưởng một bộ phận cán bộ, chiến sĩ.

4. Kế hoạch 5 năm (1961 - 1965) của Quân ủy Trung ương đề ra những chỉ tiêu cụ thể nào cho ngành văn nghệ và xuất bản quân đội?
Trả lời: Kế hoạch xác định tăng biên chế văn công toàn quân từ 630 người (1960) lên 750 - 830 người (1965); thành lập Nhà xuất bản Bộ Quốc phòng, nâng sản lượng in từ 40 - 50 cuốn/tháng lên 80 - 100 cuốn/tháng, tăng thêm 8.000 trang in mỗi năm; và chuyển Báo Quân đội nhân dân thành báo ra hàng ngày (4 trang) từ năm 1962.

5. Luận án chỉ ra hạn chế nào trong quá trình chỉ đạo công tác tư tưởng thời kỳ 1960 - 1968?
Trả lời: Hạn chế chủ yếu là có thời điểm, có chiến dịch CTTT chỉ nhấn mạnh một chiều về thắng lợi và thuận lợi, chưa chuẩn bị chu đáo về mặt tư tưởng trước những khó khăn, tổn thất và tính chất ác liệt kéo dài của chiến tranh, dẫn đến bị động cục bộ trong giải quyết tư tưởng sau đó.


Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Thành Trung là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, làm sáng tỏ toàn diện quá trình ĐBQĐ lãnh đạo CTTT giai đoạn 1960 - 1968 trên 4 mặt công tác trọng yếu. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic trên nền tảng nguồn tư liệu văn kiện xác thực, luận án đã phục dựng các bước chuyển biến chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn qua hai thời kỳ chống “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ”. Những nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.