Chương 1 CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1930- 1935 1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng. Khái niệm quần chúng. Từ trước đến nay, trong cuộc sống hàng ngày và trong nghiên cứu khoa học đã có những quan niệm khác nhau về “quần chúng”. Đây là khái niệm có tính lịch sử, thường được tiếp cận dưới góc độ triết học, xã hội học và khoa học chính trị.
Trong Từ điển xã hội học giản yếu (bản tiếng Đức, Nxb. Kindler Muenchen, 1977, tr.423) viết: “Quần chúng là một khái niệm xã hội học- lịch sử dùng để chỉ bộ phận đông đảo nhất trong cộng đồng dân cư không bao gồm giai cấp thống trị và tầng lớp lãnh đạo. Như vậy, tại mỗi cộng đồng dân cư và ở trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, quần chúng có thể bao gồm những giai cấp và tầng lớp khác nhau, nhưng nó luôn không bao gồm tầng lớp thống trị và tầng lớp lãnh đạo”. Trong bối cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, quần chúng bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, và tất cả những cá nhân thuộc các giai tầng không nắm quyền thống trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị- xã hội và các phong trào tôn giáo.
Khái lược về vai trò quần chúng nhân dân trong phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta từ 1858 đến trước khi thành lập Đảng (3/2/1930). Ngay từ thuở bình minh của lịch sử, sự nghiệp dựng nước và giữ nước đã gắn liền với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Điều này xuất phát từ đặc trưng nói chung của các dân tộc phương Đông khi dân cư phải quần tụ, đoàn kết để đương đầu với giặc ngoại xâm và làm thủy lợi. Điều này được phản ánh vào 14 z huyền thoại và truyện Thánh Gióng là một điển hình, câu chuyện phản ánh tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt chống ngoại xâm ngay từ thuở xa xưa.
Hình ảnh Gióng ra trận là một chỉnh thể của sự đoàn kết của nhân dân, sự đóng góp của nhân dân nuôi Gióng khôn lớn, trang bị cho Gióng ngựa sắt, roi sắt, kể cả lũy tre, kể cả dân làng cũng xung trận.tất cả nói lên tinh thần đoàn kết đấu tranh bất khuất của dân tộc. Nhìn lại lịch sử dựng nước chống ngoại xâm từ đầu đến giữa thế kỷ XIX chúng ta đều thấy rõ một chân lý, sáng rõ một sự thật lịch sử hiển nhiên: khi nào, triều đại nào, lãnh tụ nào huy động được sức dân đoàn kết một lòng thì triều đại đó đứng vững, lãnh tụ đó giành thắng lợi. Triều Trần trong thế kỷ XIII sở dĩ đã thắng được quân Nguyên đông hơn mình, mạnh hơn mình nhiều lần bởi vì đã biết dùng kế ‘‘thanh dã’’, biết tranh thủ sức dân. Tâm đắc với nguyên nhân thành công của đời mình và cũng thể hiện nhãn quan chính trị sáng suốt đến cuối đời mình Trần Quốc Tuấn còn dặn lại vua Trần, nếu muốn duy trì nghiệp lớn của cha ông cần: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”.
Cuối triều Trần, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, Hồ Quý Ly đã thể hiện tài năng trị nước của mình với những chính sách cải cách mang một tầm nhìn vượt thời đại, tuy nhiên những cải cách của ông chưa mang lại hiệu quả thì đã vấp phải một trở ngại khách quan – sự xâm lược của nhà Minh- mặc dù đã có những sự chuẩn bị nhất định nhưng nhà Hồ vẫn không thể vượt qua được thử thách của lịch sử. Nguyên nhân của thất bại này nằm ngay trong lời than của con trai Hồ Quý Ly – Hồ Nguyên Trừng : không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo. Nói như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo : Vừa rồi, Nhân họ Hồ chính sự phiền hà để trong nước lòng dân oán hận! Không được lòng dân dẫn đến việc để mất nước là một thất bại có tính chất tất yếu. Nhận thức được giá trị sâu xa của quy luật đó nên sau này Nguyễn Trãi đã tổng kết một cách sâu sắc: dân như nước, chở thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân.
Sang thế kỷ XVIII, nhận thấy sự phức tạp của tình hình chính trị, xã hội ở cả hai Đàng, anh em Tây Sơn đã biết giương lá cờ lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo để huy động sức dân. Đi đến đâu anh em Tây Sơn cũng được ủng hộ, số người tham gia khởi nghĩa ngày một đông. Chỉ trong một thời gian ngắn nghĩa quân đã giành được nhiều thắng lợi vang dội, dẹp chúa Nguyễn, đánh tan tập đoàn Trịnh – Lê, bảo vệ thành công chủ quyền dân tộc trước sự xâm lăng của giặc Xiêm, 15 z Thanh, đặt nền móng vững chắc cho sự thống nhất sau này. Nổi bật và xuyên suốt trong quá trình gian khổ và vinh quang đó chính là vai trò của Nguyễn Huệ – người đã biết tranh thủ tinh thần ủng hộ của nhân dân, sự dũng cảm của binh sỹ để mang lại thắng lợi chung của cả dân tộc.
Nhìn sang lịch sử cận đại, mùa thu năm 1858, ngay từ khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống Pháp xâm lược đã bùng lên mạnh mẽ. Nhân dân Nam Bộ luôn đi đầu trong phong trào đánh Pháp, bắt đầu từ miền Đông, phong trào lan khắp Nam Bộ và biến thành một cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp, sôi nổi, gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn và tổn thất. Từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ đi đến đâu quân Pháp cũng vấp phải tinh thần chiến đấu kiên cường của quần chúng nhân dân. Nhiều tấm gương nghĩa liệt quên mình vì dân tộc, thà hy sinh chứ không chịu nhục, làm cho chính kẻ thù cũng phải khâm phục.
Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo. Từ đất Gò Công, cuộc khởi nghĩa đã thu hút được nhiều nhân tài như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Nguyễn Thông, Thủ khoa Huân. với sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, lực lượng nghĩa binh có lúc lên tới 1 vạn người. Với lá cờ Bình Tây đại nguyên soái, cảm khái trước lòng dân yêu nước, Trương Định đã kháng lệnh triều đình không đi nhận chức Lãnh binh An Giang, tình nguyện ở lại cùng nhân dân kháng chiến.
Vì triều đình cố tình bỏ rơi hay tìm cách ngăn trở phá hoại, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại, nhưng phong trào yêu nước chống Pháp trong nhân dân miền Nam không bao giờ bị dập tắt bất chấp muôn vàn thủ đoạn đàn áp man rợ của quân thù, đúng như lời tuyên bố hiên ngang của Nguyễn Trung Trực trước giặc Pháp: "Bao giờ người Tây làm hết cỏ đất này thì người Nam mới hết chống Tây". Ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu với những bài thơ, văn tế, hịch tràn đầy tính nhân văn, đậm đà chính nghĩa là người tiêu biểu trong cuộc đấu tranh dùng dùng ngòi bút để đánh giặc. Trong Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định tinh thần vì nghĩa của nhân dân mà xả thân mình để chiến đấu: vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh ; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Sau sự biến ở kinh thành Huế, nhân dân cả nước đi theo hưởng ứng phong trào Cần Vương khá mạnh mẽ, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt do lực lượng lãnh đạo đã không đưa ra được những chính sách phù hợp, không biết tổ chức phong trào đấu tranh của đông đảo quần chúng cho tập trung, thống nhất nên phong trào Cần Vương đã thất bại. 16 z Bên cạnh phong trào Cần Vương, lúc ấy còn có hàng loạt các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân, họ vùng đậy với mọi thứ khí thô sơ giới có trong tay gậy tầy, giáo mác, đinh ba, dao quắm…tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Tuy nhiên, do không thể tự mình tập hợp được lực lượng trong cả nước, thiếu cơ bản về năng lực lãnh đạo và tổ chức cũng như đường lối đúng đắn để chỉ đạo đấu tranh nên những phong trào nổi đạy tự động của nông dân cũng đi vào bế tắc và thất bại. Con đường cứu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến cũng như những nhận thức về vai trò quần chúng và cách thức tuyên truyền, vận động, tổ chức chỉ đạo quần chúng đấu trah theo thế giới quan phong kiến đã không đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử và dãn đến thất bại.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng về cơ cấu kinh tế, xã hội, trên cơ sở phức hợp những tác động của tư tưởng dân chủ tư sản từ Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc dội vào Việt Nam với những biến chuyển trong nước nên phong trào cách mạng Việt Nam đã mang một khuynh hướng mới, khuynh hướng dân chủ tư sản. Những sỹ phu phong kiến lãnh đạo như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…cùng với việc phổ biến sử dụng các khái niệm mới như: tự do, dân chủ, bình đẳng, dân sinh, dân quyền, lập hiến…những nhận thức về công tác quần chúng nói chung của văn thân, sỹ phu tiến bộ đã có những chuyển biến đáng kể, các nhà lãnh đạo đã chú ý tới đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907- 1908) - Thực dân Pháp gọi là “cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ”- chú ý vận động duy tân kinh tế và cải cách xã hội, đả kích tư tưởng bảo thủ, chống lối học từ chương và thi cử cũ, chống tham nhũng trong đội ngũ quan lại, chống các hủ tục lạc hậu, hô hào cắt tóc ngắn, bài trừ nạn xôi thịt ở hương thôn…Cuộc vận động cách mạng hồi đầu thế kỷ XX đã bắt đầu có tính chất dân tộc và dân chủ, tuy vậy, tính chất tiến bộ đó, vì nhiều lý do khác nhau nên đã có nhiều hạn chế. Đã xuất hiện nhiều ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản, nhưng hầu hết những sỹ phu này “vẫn nặng về cốt cách phong kiến”, chưa thể dứt bỏ được hệ tư tưởng phong kiến, mặc dù đã mở rộng quan niệm về lực lượng quần chúng nhưng còn đặt hy vọng quá nhiều vào giai cấp phong kiến - một giai cấp đã hết vai trò lịch sử trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng dân tộc.