Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mang mã số của hệ đào tạo tiến sĩ Lịch sử, do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thanh Mai thực hiện với đề tài: “Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1954”.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thành lập đã phải đối mặt với những thử thách lớn về kinh tế, chính trị và quân sự:
- Hậu quả nạn đói làm khoảng 2 triệu người chết, hơn 90% dân số không biết chữ, ngân khố quốc gia kiệt quệ, hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ.
- Tình thế "thù trong giặc ngoài": Gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc cùng các tổ chức phản động Việt Quốc, Việt Cách; quân đội Anh và thực dân Pháp ở miền Nam; Việt Nam hoàn toàn chưa được quốc gia hay tổ chức quốc tế nào công nhận hoặc thiết lập quan hệ ngoại giao.
- Tương quan lực lượng giữa chính quyền cách mạng và đối phương có sự chênh lệch lớn. Bên cạnh việc phát huy nội lực và khối đại đoàn kết toàn dân, việc tranh thủ nguồn lực ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Dù nhiều công trình lịch sử và ngoại giao đã đề cập gián tiếp đến cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện về toàn bộ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế xuyên suốt cả hai giai đoạn 1945–1949 và 1950–1954 trên các phương diện chính trị, quân sự và kinh tế.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến năm 1954; trên cơ sở đó nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm phục vụ công tác đối ngoại.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và sự cần thiết phải tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam giai đoạn 1945–1954.
- Nghiên cứu và hệ thống hóa quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; các hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954).
- Trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954).
- Nêu lên những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm từ thực tiễn Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế giai đoạn 1945–1954.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng về tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến năm 1954.
- Phạm vi nội dung: Quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương (từ tháng 2-1951 đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam) lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế về chính trị, quân sự, kinh tế trong kháng chiến chống Pháp.
- Phạm vi không gian: Không gian lịch sử tại Việt Nam và các quốc gia, tổ chức quốc tế có liên quan đến nội dung đối ngoại của Đảng.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 9-1945 (thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đến tháng 7-1954 (ký kết Hiệp định Geneva về Đông Dương); có khảo cứu mở rộng các sự kiện liên quan trước và sau mốc thời gian trên để làm rõ đối tượng nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo cứu và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Các công trình trong nước
-
Nhóm công trình lịch sử chung, lịch sử quân sự và tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Bộ sách "Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954)" (Tập 1, Tập 2 và Tập 5) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Trình bày diễn biến cuộc chiến tranh, phản ánh quan hệ phối hợp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, Liên Xô.
- "Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946–1960)", Tập 1 do Văn phòng Quốc hội biên soạn: Ghi nhận hoạt động lập hiến, lập pháp và phê chuẩn các hiệp ước ngoại giao của Quốc hội khóa I.
- "Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội" của Cốc Văn Khang: Phân tích bối cảnh đấu tranh giữa hai hệ thống chính trị - xã hội tư bản và xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Các công trình của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: "Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học" và "Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945–1975 Thắng lợi và bài học": Tổng kết bài học tranh thủ sức mạnh thời đại, viện trợ vật chất và tinh thần từ Liên Xô, Trung Quốc.
- Hồi ức "Chiến đấu trong vòng vây" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Cung cấp tư liệu về giai đoạn chiến đấu bị bao vây (1946–1950) và chuyến đi bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, Liên Xô đầu năm 1950.
- "Đảng Cộng sản Việt Nam, chặng đường qua hai thế kỷ (1930–2006)": Nêu 6 bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học về liên minh Lào - Campuchia và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.
- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới" của Đinh Xuân Lý; "Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh" của Nguyễn Dy Niên.
- Bộ sách "Lịch sử Việt Nam" của Viện Sử học (Tập 10 và Tập 11): Cập nhật tiến trình đấu tranh ngoại giao giai đoạn 1947–1954 và Hội nghị Geneva 1954.
-
Nhóm công trình chuyên sâu về quan hệ quốc tế và ngoại giao:
- Các tài liệu của Bộ Ngoại giao: "Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945–1954)" (Tập 1, 2); "Sự thật quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua"; "Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950–1980)".
- "Ngoại giao Việt Nam 1945–2000" do Nguyễn Đình Bin chủ biên; "Ngoại giao Việt Nam (1945–1995)" của Lưu Văn Lợi; "Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945–1975)" và "Ngoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bạo" của Nguyễn Phúc Luân; "Ngoại giao Việt Nam, phương sách và nghệ thuật đàm phán" của Nguyễn Khắc Huỳnh; "Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp" của Đặng Văn Thái; "Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao" của Viện Quan hệ quốc tế.
- Các bài viết học thuật của Vũ Dương Ninh, Phạm Hồng Tung, Bùi Trọng Liễu, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Thị Mai Hoa, Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Anh Thái, Lê Giản, Văn Phong, Phạm Hồng Chương, Phùng Đức Thắng.
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Lê Kim Hải (1945–1946), Nguyễn Mạnh Hà (chính sách của Pháp 1945–1954), Nguyễn Thị Kim Dung (đối ngoại 1945–1946), Lê Văn Thịnh (quan hệ Việt Nam - Liên Xô 1930–1954), Nguyễn Thị Huyền Trang (đối ngoại 1930–1945).
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Hồi ký và chuyên khảo của nhân chứng, học giả quốc tế: Léo Figuères ("Đồng chí Hồ Chí Minh như tôi được biết"); Jean Sainteny ("Đối diện với Hồ Chí Minh"); L. Archimedes Patti ("Tại sao Việt Nam"); Đô đốc D'Argenlieu ("Thời sự Đông Dương"); Tướng Henri Navarre ("Đông Dương hấp hối"); Philippe Devillers ("Paris, Sài Gòn, Hà Nội"); Wilfred Burchett ("Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam"); Hoàng Tranh ("Hồ Chí Minh với Trung Quốc"); Ilya V. Gaiduk ("Liên bang Xô viết và chiến tranh Việt Nam"); William Duiker ("Hồ Chí Minh - Một cuộc đời"); Lady Borton ("Hồ Chí Minh: Một hành trình"); David Marr ("Việt Nam năm 1945: cuộc tranh đoạt chính quyền"); Raymond Aubrac ("Paris - Bắc Kinh - Hà Nội, ba cuộc gặp với Hồ Chí Minh để tìm kiếm hòa bình").
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định: Các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề từ góc độ thông sử, lịch sử quân sự hoặc quan hệ song phương cụ thể, chưa có công trình nào tái hiện toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống quá trình hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Đảng từ năm 1945 đến năm 1954; phân kỳ rõ ràng đặc điểm của hai thời kỳ (1945–1949: vừa kháng chiến vừa kiến quốc trong vòng vây; 1950–1954: hậu phương quốc tế mở rộng) và tổng kết các kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
- Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, liên minh cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa.
- Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữ vững độc lập tự chủ và mở rộng quan hệ quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp chặt chẽ giữa xem xét các sự kiện theo trình tự thời gian với phân tích bản chất, quy luật vận động của đường lối đối ngoại.
- Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu, phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu lịch sử khác nhau để kiểm chứng tính xác thực.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.
- Hệ thống văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; các văn bản điều ước, hiệp định quốc tế (Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946, Hiệp định Geneva 1954); các bức thư, bài phát biểu, điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Khối tư liệu bản thảo, bút tích lưu giữ tại kho Cơ sở của Bảo tàng Hồ Chí Minh; nguồn tài liệu lưu trữ sưu tầm từ Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga.
- Hồi ký, nhật ký, tài liệu tổng kết của các cá nhân, nhân chứng lịch sử tham gia trực tiếp vào công tác đối ngoại và kháng chiến.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án gồm 4 chương, 8 tiết:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này điểm luận toàn diện các tài liệu khoa học trong và ngoài nước theo 2 phân mục chính:
- Tiết 1.1: Phân tích các công trình nghiên cứu trong nước (lịch sử chung, lịch sử Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử ngoại giao, bài báo tạp chí, luận án) và các công trình của các học giả, chính khách, nhân chứng nước ngoài.
- Tiết 1.2: Đánh giá thành tựu của các công trình đi trước, đồng thời xác định các nội dung mà luận án tập trung giải quyết: Sự cần thiết khách quan; vai trò của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; quá trình chỉ đạo thực tiễn qua 2 giai đoạn (1945–1949 và 1950–1954); nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm.
Chương 2: Đảng lãnh đạo tìm kiếm sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế từ năm 1945 đến năm 1949
Chương này làm rõ đường lối và các hoạt động phá thế bao vây cô lập:
- Bối cảnh và chủ trương:
- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối diện muôn vàn khó khăn: nạn đói làm khoảng 2 triệu người chết, hơn 90% dân số mù chữ, gần 20 vạn quân Tưởng ở phía Bắc, quân Anh và quân Pháp ở phía Nam.
- Về sách lược với quân Tưởng: Thực hiện hòa hoãn, tránh xung đột, nhượng bộ một số quyền lợi kinh tế - chính trị (cung cấp lương thực, tiêu tiền mất giá, nhường 70 ghế Quốc hội và 4 ghế Chính phủ không qua bầu cử).
- Hệ thống văn kiện định hình đường lối đối ngoại: Nghị quyết Hội nghị Tân Trào (14–15/8/1945), Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25-11-1945) với phương châm "làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết", Chỉ thị Hòa để tiến (9-3-1946), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng (15–17/1/1948), Hội nghị cán bộ Trung ương 6 (14–18/1/1949).
- Quá trình tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế:
- Hình thành "con đường xuyên Tây": Đồng chí Dương Quang Đông (Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ) cùng 14 chiến sĩ sang Thái Lan, sử dụng 25kg vàng thu được từ "Tuần lễ vàng" để mua vũ khí; sang Malaixia vận động Đảng Cộng sản Malaixia (thông qua Tổng Bí thư Phạm Văn Đắc) tiếp nhận 150 tấn vũ khí thu được từ quân Nhật. Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn tổ chức chuyển 500.000 đồng Đông Dương sang Băng Cốc cho đồng chí Trần Văn Giàu mua sắm trang bị cho các tiểu đoàn hải ngoại.
- Thiết lập cơ quan đại diện và mạng lưới thông tin: Đặt Phái viên quán tại Băng Cốc (tháng 8-1946 theo thư giới thiệu của Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng ký ngày 7-7-1946); đặt cơ quan đại diện tại Rănggun, Miến Điện (tháng 2-1948, đến năm 1949 là Tổng Lãnh sự quán); cơ quan đại diện tại Praha, Tiệp Khắc (giữa năm 1949 do Hoàng Văn Hoan phụ trách). Thành lập 12 phòng thông tin quốc tế tại Paris, Luân Đôn, New York, Praha, New Delhi, Rănggun, Băng Cốc, Singapore, Hồng Kông, Tân Đảo...
- Ngoại giao đa phương và đoàn thể nhân dân: Cử đoàn dự Hội nghị Liên Á tại New Delhi (tháng 4-1947); cử đoàn 10 cán bộ thanh niên ra nước ngoài (tháng 2-1948); tham gia các hội nghị quốc tế tại Calcutta, Tiệp Khắc, Ba Lan, Budapest, Paris, Milan.
- Vận động Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp: Ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946; cử phái đoàn Quốc hội do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Pháp (tháng 4-1946, hội đàm với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez và Jacques Duclos); chuyến thăm chính thức nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ 31-5-1946) và đàm phán tại Hội nghị Fontainebleau.
| Lĩnh vực / Kênh đối ngoại | Dữ kiện / Số liệu cụ thể trong văn bản | Kết quả / Ý nghĩa thực tế |
| :--- | :--- | :--- |
| **Sách lược với quân Tưởng (1945–1946)** | Nhượng 70 ghế Quốc hội, 4 ghế Chính phủ không qua bầu cử; tiêu tiền Quan kim, Quốc tệ mất giá; cung cấp lương thực. | Vô hiệu hóa hoạt động lật đổ của tay sai; tập trung lực lượng kháng chiến ở miền Nam; tạo điều kiện ký Hiệp định Sơ bộ buộc quân Tưởng rút về nước. |
| **Tuyến hậu cần Nam Bộ ("Con đường xuyên Tây")** | - Sử dụng 25kg vàng ("Tuần lễ vàng") sang Xiêm mua vũ khí.
- Chuyển 500.000 đồng Đông Dương sang Băng Cốc.
- Tiếp nhận 150 tấn vũ khí từ Đảng Cộng sản Malaixia. | Đưa hàng trăm tấn vũ khí về Nam Bộ; thành lập và trang bị cho các tiểu đoàn hải ngoại chiến đấu tại chiến trường miền Nam. |
| **Cơ quan đại diện và hệ thống thông tin đối ngoại (1946–1949)** | - Thiết lập Phái viên quán tại Băng Cốc (8-1946), Rănggun (2-1948), Praha (1949).
- Tổ chức 12 phòng thông tin tại các trung tâm lớn (Pari, Luân Đôn, Niu Oóc, Praha, Băng Cốc...). | Phá vỡ thế cô lập thông tin; truyền bá tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến; liên lạc với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. |
| **Ngoại giao đa phương và nhân dân (1947–1949)** | Cử các đoàn đại biểu tham gia 9 diễn đàn quốc tế lớn tại Ấn Độ, Pháp, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hunggari, Italia. | Nâng cao vị thế của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vận động phong trào hòa bình thế giới ủng hộ Việt Nam. |
Chương 3: Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1950 - 1954)
Chương này phân tích sự chuyển biến của công tác đối ngoại khi hậu phương quốc tế được mở rộng:
- Tiết 3.1: Bối cảnh trong nước, quốc tế và chủ trương của Đảng: Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa; thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc (1949); sự công nhận ngoại giao của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân vào đầu năm 1950; chủ trương chuyển sang giai đoạn tổng phản công, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951).
- Tiết 3.2: Quá trình Đảng chỉ đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế: Tổ chức tiếp nhận viện trợ quân sự, hậu cần, kỹ thuật; mở rộng liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự trên chiến trường (Chiến dịch Biên giới 1950, Tây Bắc 1952, Đông Xuân 1953–1954, Điện Biên Phủ) với mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Geneva năm 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
- Tiết 4.1: Nhận xét: Phân tích những thành công (giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, linh hoạt về sách lược, tranh thủ được khối liên minh quốc tế rộng lớn) và một số hạn chế trong quá trình lãnh đạo đối ngoại.
- Tiết 4.2: Một số kinh nghiệm: Đúc kết các bài học lịch sử về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phân hóa cô lập kẻ thù; kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân; giữ vững tự lực cánh sinh trong tiếp nhận viện trợ quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954).
- Làm rõ tính thống nhất biện chứng giữa sách lược ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt với nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia trong từng thời điểm lịch sử cụ thể.
- Phân tích cơ chế kết hợp giữa sức mạnh nội lực của dân tộc với sự giúp đỡ vật chất, tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng và các lực lượng hòa bình trên thế giới.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Phục dựng bức tranh lịch sử chân thực, chi tiết về các hoạt động đối ngoại của Đảng trên các địa bàn trọng điểm (Đông Nam Á, Tây Âu, khối xã hội chủ nghĩa) thông qua các cứ liệu lịch sử cụ thể (như mạng lưới phòng thông tin, tuyến đường vận chuyển vũ khí hải ngoại).
- Rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc hoạch định và thực thi đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng, lịch sử ngoại giao; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao chất lượng công tác trưng bày, thuyết minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và các khu di tích lưu niệm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nguồn tư liệu
- Nguồn tài liệu từ phía nước ngoài (Pháp, Mỹ) tuy phong phú nhưng phần lớn do các tướng lĩnh, học giả có thế giới quan khác biệt hoặc tiếp cận tư liệu một phía biên soạn, đòi hỏi phải thẩm tra, đối chiếu cẩn trọng.
- Một số tài liệu ngoại giao quốc tế ở các kho lưu trữ nước ngoài liên quan đến giai đoạn này chưa được tiếp cận đầy đủ hoặc chưa được giải mật hoàn toàn.
Hạn chế về phạm vi và hướng nghiên cứu mở rộng
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ tháng 9-1945 đến tháng 7-1954; các nội dung trước và sau giai đoạn này chỉ được đề cập mang tính liên hệ bối cảnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu sâu hơn các nguồn tài liệu lưu trữ từ Liên bang Nga, Trung Quốc và Pháp mới được công bố, so sánh đối chiếu đa chiều sự phối hợp viện trợ quốc tế giữa các nước trong khối xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử Quan hệ quốc tế và Ngoại giao Việt Nam.
- Cán bộ nghiên cứu và thực thi chính sách đối ngoại: Cung cấp tư liệu lịch sử và các bài học kinh nghiệm về xử lý quan hệ quốc tế, nghệ thuật đàm phán, phân hóa đối phương và tranh thủ nguồn lực bên ngoài.
- Cơ quan bảo tàng và di tích lịch sử: Phục vụ trực tiếp cho việc tập hợp tài liệu, bổ sung hồ sơ khoa học, nâng cao hiệu quả công tác trưng bày hiện vật và thuyết minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng và các di tích lưu niệm cách mạng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu chủ đạo nào trong luận án?
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và đường lối đối ngoại của Đảng. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp này; cùng các phương pháp bổ trợ như tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu.
2. Tình hình khó khăn của Việt Nam sau ngày 2-9-1945 được phản ánh qua những dữ kiện lịch sử cụ thể nào?
Về kinh tế - xã hội, sản xuất đình trệ, lũ lụt hạn hán đe dọa, nạn đói làm khoảng 2 triệu người chết, ngân khố trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ. Về quân sự - chính trị, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo vào miền Bắc cùng lực lượng Việt Quốc, Việt Cách; quân đội Anh và quân Pháp đổ bộ vào miền Nam; chính quyền cách mạng chưa được quốc gia nào công nhận hay thiết lập quan hệ ngoại giao.
3. Tuyến hậu cần "con đường xuyên Tây" và hoạt động tranh thủ vũ khí tại Đông Nam Á giai đoạn 1945–1949 diễn ra như thế nào?
Đồng chí Dương Quang Đông cùng 14 chiến sĩ dùng 25kg vàng thu từ "Tuần lễ vàng" sang Thái Lan mua vũ khí; sang Malaixia vận động Đảng Cộng sản Malaixia (Tổng Bí thư Phạm Văn Đắc) tiếp nhận 150 tấn vũ khí thu từ quân Nhật. Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn tổ chức chuyển 500.000 đồng Đông Dương sang Băng Cốc để đồng chí Trần Văn Giàu mua trang bị thành lập các tiểu đoàn hải ngoại đưa về Nam Bộ.
4. Mạng lưới cơ quan đại diện và phòng thông tin quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1946–1949 được xây dựng ra sao?
Chính phủ thành lập Phái viên quán tại Băng Cốc (tháng 8-1946), cơ quan đại diện tại Rănggun (tháng 2-1948, năm 1949 thành Tổng Lãnh sự quán), cơ quan đại diện tại Praha (giữa năm 1949). Đồng thời, tổ chức 12 phòng thông tin tại các trung tâm lớn như Paris, Luân Đôn, New York, Praha, New Delhi, Rănggun, Băng Cốc, Singapore, Hồng Kông, Tân Đảo để tuyên truyền và vận động quốc tế.
5. Sách lược đối ngoại của Đảng đối với quân Trung Hoa Dân quốc giai đoạn 1945–1946 gồm những nội dung gì?
Đảng thực hiện chủ trương hòa hoãn, tránh xung đột trực tiếp, nhân nhượng có nguyên tắc một số quyền lợi kinh tế và chính trị: Cung cấp lương thực thực phẩm, chấp nhận tiêu các loại tiền mất giá (Quan kim, Quốc tệ), nhường cho tay sai của Tưởng 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ không qua bầu cử nhằm vô hiệu hóa âm mưu lật đổ chính quyền, tập trung lực lượng chống thực dân Pháp ở miền Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thanh Mai là công trình khoa học lịch sử chuyên khảo, tái hiện có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954). Bằng việc phân tích bối cảnh lịch sử, đường lối chỉ đạo và các hoạt động thực tiễn qua hai giai đoạn 1945–1949 và 1950–1954, công trình đã làm sáng tỏ việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đưa kháng chiến đến thắng lợi. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt tư liệu lịch sử Đảng mà còn đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị phục vụ công tác đối ngoại và nghiên cứu, giảng dạy lịch sử.