chương 1 và chương 2 nói về hoạt động ngoại giao của Việt Nam, từ ngoại giao góp phần giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng (1945-1946) đến ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947-1954). 14 Vấn đề ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được các tác giả chia thành các phân đoạn: Ngoại giao phá vây (1947-1949); Lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế (1950-1953); Hội nghị quốc tế về Đông Dương và ký kết Hiệp định Geneva năm 1954. Với nguồn tài liệu phong phú và đáng tin cậy, với các luận chứng chặt chẽ và súc tích, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống và tổng hợp công tác ngoại giao của Đảng, Nhà nước trong những năm tháng đầy biến động này. Tuy nhiên, đây là những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế ở giai đoạn này vẫn cần có sự nghiên cứu mở rộng và chuyên sâu hơn.
Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như: "Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945- 1975)" của Nguyễn Phúc Luân [110]; "Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp" của Đặng Văn Thái [147]. "Ngoại giao Việt Nam (1945-1995)" là một công trình nghiên cứu công phu của Lưu Văn Lợi [109]. Tác giả đã đưa ra sự đánh giá bao quát về nửa thế kỷ hoạt động của ngoại giao Việt Nam, bắt đầu từ những năm 1945-1946, giai đoạn bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hai cuộc chiến tranh biên giới và quá trình phá thế bị bao vây, cô lập để hội nhập thế giới trong các mối quan hệ hợp tác và phát triển đất nước. Trong sách, tác giả chọn những sự kiện quan trọng nhất để thẩm tra và sắp xếp tư liệu nhằm thuật lại sự kiện, qua đó giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về 50 năm ngoại giao Việt Nam.
Trong cuốn "Ngoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bạo", tác giả Nguyễn Phúc Luân [111] khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vạch ra những định hướng cơ bản trong hoạt động quốc tế của cách mạng Việt Nam, đặt nền móng cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Tinh thần 15 nhân văn trong trong phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn làm khuất phục lòng người, đặc biệt là với đối phương. Trong cuốn "Ngoại giao Việt Nam, phương sách và nghệ thuật đàm phán" của Nguyễn Khắc Huỳnh [94], tác giả đã phân tích những sự kiện, những chặng đường của ngoại giao Việt Nam, góp phần làm rõ những thành tựu, tính đặc sắc, bản lĩnh và trí tuệ của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Cuốn sách cũng nêu lên những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao từ năm 1945 đến năm 1969.
* Trong các bài tạp chí, báo và hội thảo khoa học, vấn đề đối ngoại, hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được đề cập đến như: “Âm mưu của Trung Quốc từ Điện Biên Phủ đến Giơnevơ” của Nguyễn Anh Thái [146]; Lê Giản, Văn Phong [68] trong cuốn “Những người cộng sản Pháp và chiến tranh ở Đông Dương (1944-1954)”; “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” của Phạm Hồng Chương, Phùng Đức Thắng [37]; “Hà Nội tháng 12-1946, những toan tính từ phía bên kia” của Vũ Dương Ninh [137], nội dung bài viết tổng hợp những sự kiện đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946. Liên quan đến chủ đề này, tác giả Vũ Dương Ninh [136] còn đề cập đến trong bài viết “Mục tiêu độc lập dân tộc trong đường lối đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. “Hồ Chí Minh và cuộc chiến tranh ở Việt Nam” trong hồi tưởng của Khrushchev” của Phạm Hồng Tung [160]; “Đọc hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” của Bùi Trọng Liễu [108]; “Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những năm 1954-1960” của Nguyễn Thị Mai Hoa [81]. "Cuộc hành trình vạn dặm" của Nguyễn Huy Hoan [83].
Nội dung đề cập đến Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mùa xuân Canh Dần 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc hành trình vạn dặm để mở đường quan hệ quốc tế 16 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người đã góp sức xây dựng tình hữu nghị của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc với nhân dân Việt Nam. “Từ phá vây về ngoại giao đến phá vây biên giới” của Nguyễn Khắc Huỳnh [95]. Trong bài “Chính sách đối ngoại của Đảng những năm sau Cách mạng Tháng Tám” của Nguyễn Thị Mai Hoa [82], tác giả đề cập đến thời điểm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã thực hiện các chính sách đối ngoại như: Đối thoại, thương lượng hòa bình vì sự tồn vong của chế độ mới, nỗ lực thương lượng trên nền hòa bình mong manh, trên nền tảng hợp tác hữu nghị, tích cực phá vây tìm bạn bên ngoài.
Trong bài “Góp phần tìm hiểu lý do đến tháng 1-1950, Liên Xô mới công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, trên cơ sở nghiên cứu sâu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam, tác giả Nguyễn Mạnh Hà [77] đã đưa ra các lý do chủ yếu dẫn đến vấn đề của bài viết. Một số các bài viết hội thảo cũng đề cập đến vấn đề này, trong số đó tiêu biểu là: “Thêm bầu bạn bớt kẻ thù - nguyên tắc chỉ đạo chiến lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh” in trong Kỷ yếu Hội thảo Tư tưởng Hồ Chí Minh - Lý luận và thực tiễn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [84]. Tuy nhiên, như trên đã nói, trong phạm vi bài tạp chí, báo và hội thảo khoa học, các tác giả chưa có điều kiện trình bày một cách có hệ thống và đầy đủ về vấn đề tranh thủ, phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954. Mặc dù vậy, đây cũng là những nội dung cơ bản, có tính chất định hướng cho việc thực hiện đề tài luận án.
Ngoài ra, còn một số luận án nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nghiên cứu về đường lối, chính sách chiến tranh của Pháp ở Việt Nam, tiêu biểu như: “Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh ngoại giao Việt - Pháp từ 2-9-1945 đến 19-12-1946” của Lê Kim Hải [78]; “Chính sách chính trị, 17 quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954 và nguyên nhân thất bại của chúng” của Nguyễn Mạnh Hà [75]; “Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945-1946” của Nguyễn Thị Kim Dung [43]. Luận án “Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong giai đoạn 1930-1954” của Lê Văn Thịnh [151]. Luận án gồm 3 chương đi dọc chiều dài của mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô từ năm 1930 đến năm 1945: Bước khởi đầu của quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô, Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong những năm Việt Nam đấu tranh giành độc lập (1930-1945), Quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Liên Xô trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Tác giả đã ghi nhận, phân tích và đánh giá cao sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam trong những năm 1945-1954.
Tuy nhiên, tác giả cũng đi đến nhận định, ngay cả khi công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Liên Xô vẫn kiên trì mục tiêu hòa bình và ổn định trong quan hệ quốc tế, tránh dính líu trực tiếp vào những cuộc tranh chấp khu vực. Từ đó, Liên Xô không muốn công khai hóa mạnh mẽ mối quan hệ mật thiết với cách mạng Việt Nam. Nhiều hoạt động hỗ trợ cho cách mạng Việt Nam, đặc biệt là về vật chất thường được Liên Xô thực hiện qua Trung Quốc,. Luận án “Hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945” của Nguyễn Thị Huyền Trang [155] đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học về quá trình định hình đường lối đối ngoại của Đảng giai đoạn 1930-1945.
Tác giả đã phân tích, góp phần làm sáng tỏ những hoạt động đối ngoại của Đảng với cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945. Qua đó, khẳng định đường lối và hoạt động đối ngoại đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong giai đoạn lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền,… Tuy cùng nghiên cứu trên lĩnh vực Lịch sử Đảng, Lịch sử Quân sự, Hồ Chí Minh, song đề tài, nội dung nghiên cứu của các luận án nói trên không 18 trùng lặp với đề tài luận án. Đây cũng là một trong những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình thực hiện luận án. Một số công trình nước ngoài đề cập đến sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Nhiều tác giả nước ngoài đã nghiên cứu về cuộc chiến tranh này cũng như các vấn đề liên quan.
Phần lớn trong số đó là các tướng lĩnh, học giả người Pháp, Mỹ, đặc biệt là một số phóng viên chiến trường, có mặt trực tiếp tại Việt Nam trong thời gian này. Do đó, các tác giả có điều kiện khai thác và cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu liên quan đến vấn đề này từ phía bên kia. Tuy nhiên, trừ một số ít các tác giả có mặt trực tiếp tại Việt Nam, do sự khác nhau về thế giới quan và giới hạn bởi nguồn tư liệu một phía, các công trình này chỉ có thể là các nguồn tư liệu bổ sung và hỗ trợ cho quá trình tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài. Có thể kể ra như: “Đồng chí Hồ Chí Minh như tôi được biết” của Lê-ô Phi-ghe (Le’o Figuères) [105] đã kể về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là lần ông gặp Người năm 1950 ở Việt Nam với tư cách là Tổng Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng hoà Pháp, vừa là Chủ nhiệm tờ báo Tiền phong (của Đoàn Thanh niên Cộng hoà Pháp).
Lê-ô Phi-ghe được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hai lần tại nơi ở của Người nơi chiến khu giữa núi rừng Việt Bắc.