Tổng quan luận án

Công tác xây dựng chính đảng vô sản là nhiệm vụ mang tính quy luật khách quan, cơ bản, thường xuyên và lâu dài nhằm bảo đảm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại địa bàn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên — khu vực chiến lược trọng yếu chiếm khoảng 1/3 diện tích cả nước — Đảng đã thành lập Đảng bộ Liên khu V để trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp (1949-1954) và những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1961).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử kháng chiến và lịch sử Đảng bộ địa phương tại Liên khu V, song cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu độc lập, toàn diện và có hệ thống về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong toàn bộ khung thời gian từ năm 1949 đến năm 1961. Do đó, bức tranh lịch sử về công tác xây dựng Đảng tại địa bàn chiến lược này vẫn còn những khoảng trống về mặt sử liệu và lý luận cần được làm sáng rõ.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu V thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 1949 đến năm 1961 trên các phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức.
  2. Đánh giá những thành công, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng Đảng, bổ sung cơ sở dữ liệu lịch sử, cung cấp thêm luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ năm 1949 đến năm 1961, nêu rõ những nội dung luận án kế thừa và những nội dung cần tập trung nghiên cứu.
  2. Phân tích những nhân tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ năm 1949 đến năm 1961.
  3. Tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu V thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 1949 đến năm 1961.
  4. Làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân; đúc rút những kinh nghiệm qua thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V từ năm 1949 đến năm 1961.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V.
  • Phạm vi nội dung: Chủ trương, hoạt động thực tiễn và kết quả của công tác xây dựng Đảng trên ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; khái quát ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn do Đảng bộ Liên khu V hoạt động và lãnh đạo. Khi thành lập năm 1949, địa bàn gồm 12 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên. Đến năm 1955, Liên khu ủy phụ trách thêm tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Trị (từ bờ Nam sông Bến Hải trở vào).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 3-1949 (thời điểm thành lập Đảng bộ Liên khu V) đến năm 1961 (thời điểm Đảng bộ Liên khu V kết thúc nhiệm vụ theo quyết định của Trung ương Đảng). Luận án cũng đề cập khái quát một số nội dung liên quan diễn ra trước năm 1949 và sau năm 1961 để đảm bảo tính liên tục của lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án được tác giả phân chia thành hai nhóm công trình chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đề cập đến công tác xây dựng Đảng:

  • Các công trình do Viện Lịch sử Đảng biên soạn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1954) - Quyển 2 (1945-1954) (xuất bản năm 2021); Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, tập 2 (1954-1975) (xuất bản năm 1995); Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) (xuất bản năm 2015). Các tác phẩm này phản ánh công tác xây dựng Đảng trên phạm vi toàn quốc, có đề cập đến bối cảnh kháng chiến và một số hạn chế của Liên khu V nhưng nội dung mang tính điểm xuyết.
  • Các công trình thể loại biên niên: Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III: Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954) (2013); Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 (1945-1954) và tập 3 (1954-1964) (2021); Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) (2008).
  • Các công trình tổng kết của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học (1996); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học (2015).
  • Các công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954 (tập I, tập II, 1994); Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1945-1954), tập 2 (2015); Lịch sử công tác đảng công tác chính trị trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945-1975 (1994).
  • Các sách chuyên khảo và đề tài khoa học: Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2000 (2000); Lịch sử Biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1925-1954 và 1955-1975 (2005); Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000) của Nguyễn Hữu Tri và Nguyễn Thị Phương Hồng (2005); Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011) của Nguyễn Trọng Phúc (2012); Đảng Cộng sản Việt Nam - Những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng của Mạch Quang Thắng (2007); Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng của Trần Đình Huỳnh (1999); Sức mạnh dân tộc của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của Lê Mậu Hãn (2003); 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam, những chặng đường lịch sử của Ngô Đăng Tri (2001); sách tiểu sử Võ Chí Công, Tiểu sử (2019); đề tài khoa học cấp bộ do Nguyễn Bình làm chủ nhiệm (2011).
  • Các luận án tiến sĩ liên quan: Luận án của Võ Thị Thanh Thảo (1999), Nguyễn Bình (2009), Nguyễn Danh Lợi (2012), Đoàn Thị Hương (2014), Nguyễn Thị Xuân (2015), Nguyễn Thị Lan (2015).

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu trực tiếp về địa bàn Liên khu V:

  • Sách chuyên khảo lịch sử kháng chiến và quân sự địa phương: Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975 (1992, 1995); Công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu V (1945-2000), Biên niên, tập 2 quyển 1 (2002); Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 2 (1989); Lịch sử Khu 6 (cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1975 (1995); Một số kinh nghiệm chỉ đạo Chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (1999); Phụ nữ Nam Trung Bộ trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1930-1975) (1999).
  • Các bài viết trên tạp chí khoa học chuyên ngành: bài viết của tác giả Trần Quốc Long (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2-1994) và Nguyễn Bình (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4-2008).
  • Lịch sử Đảng bộ các tỉnh thuộc địa bàn: Quảng Trị (1999), Thừa Thiên - Huế (1995), Quảng Nam - Đà Nẵng (2006), Quảng Ngãi (1999), Bình Định (1992, 1996), Phú Yên (1994, 1996, 1999), Khánh Hòa (2001), Ninh Thuận (2011), Bình Thuận (2000), Gia Lai (1996), Kon Tum (1996), Lâm Đồng (2008).
  • Các luận án nghiên cứu địa bàn Liên khu V: luận án phó tiến sĩ của Trần Quốc Long (1995), luận án tiến sĩ của Lê Văn Đạt (2002).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận lịch sử kháng chiến toàn diện hoặc phản ánh công tác xây dựng Đảng ở cấp độ toàn quốc, việc phản ánh công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V chỉ mang tính bộ phận, điểm xuyết. Nhiều nội dung về nhận thức, công tác tư tưởng, công tác cán bộ, đặc biệt là các khuyết điểm, sai lầm trong chỉ đạo thực tiễn và bài học kinh nghiệm của Đảng bộ Liên khu V chưa được nghiên cứu hệ thống. Nguồn tư liệu lưu trữ gốc của Liên khu ủy V chưa được khai thác toàn diện. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách đặt công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V giai đoạn 1949-1961 thành một đối tượng nghiên cứu độc lập, chuyên sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật Mác - Lênin; các nguyên tắc xây dựng tổ chức Đảng kiểu mới của V.I. Lênin; cùng hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn chính đảng vô sản.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng làm phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện cụ thể, chân xác quá trình Đảng bộ Liên khu V triển khai công tác xây dựng Đảng theo trình tự thời gian từ năm 1949 đến năm 1961, gắn liền với các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và số liệu thực tế.
  • Phương pháp logic: Sử dụng để phân tích cấu trúc, mối quan hệ biện chứng giữa các mặt công tác xây dựng Đảng (chính trị, tư tưởng, tổ chức), đánh giá các ưu điểm, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị quy luật.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và đối chiếu các nguồn sử liệu.

Nguồn tư liệu:

  • Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc; các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành từ năm 1949 đến năm 1961.
  • Văn kiện của Đảng bộ Liên khu V, Liên khu ủy V và các cấp bộ Đảng trực thuộc công bố trong Văn kiện Đảng toàn tập hoặc lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng và các cơ quan lưu trữ địa phương.
  • Các công trình nghiên cứu khoa học, sách lịch sử đảng bộ các tỉnh, tạp chí chuyên ngành.
  • Các bài nói, bài viết của lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Liên khu V và hồi ký của các nhân chứng lịch sử đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Dưới đây là bảng tổng hợp các đặc điểm hành chính và dân số của địa bàn Liên khu V theo thống kê năm 1950 được tác giả trình bày trong luận án:

Vùng địa lý Các tỉnh trực thuộc Diện tích đất liền Dân số (năm 1950) Đặc điểm kinh tế - xã hội chính
Đồng bằng ven biển (7 tỉnh) Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Trên 33.000 km² - Quảng Nam: 952.000 người
- Quảng Ngãi: 613.000 người
- Bình Định: 688.000 người
- Phú Yên: 254.000 người
- Khánh Hòa: 91.000 người
- Ninh Thuận: 70.000 người
- Bình Thuận: 94.000 người
Đất đai phì nhiêu, nguồn lao động dồi dào, có trục giao thông Quốc lộ 1A và đường sắt; kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển.
Tây Nguyên và miền núi (5 tỉnh) Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên Trên 67.000 km² - Kon Tum: 367.000 người
- Đắk Lắk: 123.000 người
- Đồng Nai Thượng: 73.000 người
- Gia Lai và Lâm Viên: 167.000 người
Địa bàn rừng núi hiểm trở, giàu lâm sản và khoáng sản; có 23 dân tộc sinh sống; đời sống kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp.
Toàn Liên khu V 12 tỉnh (năm 1949) 100.336 km² Khoảng 3.000.000 người Có 23 dân tộc; tôn giáo chính gồm Phật giáo, Thiên chúa (72 vạn giáo dân), Cao Đài (31 vạn tín đồ).

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm đề tài: các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng toàn quốc và các công trình nghiên cứu lịch sử kháng chiến tại Liên khu V. Tác giả phân tích những giá trị khoa học mà các công trình đi trước đã đạt được về nguồn tài liệu, bối cảnh lịch sử và phương pháp tiếp cận. Đồng thời, chương này chỉ ra những khoảng trống: các công trình trước chưa nghiên cứu công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V một cách độc lập và liên tục trong giai đoạn 1949-1961; còn thiếu sự đào sâu về những khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo thực tiễn và chưa khai thác triệt để các nguồn tài liệu gốc lưu trữ. Từ đó, tác giả xác định các nội dung trọng tâm cần tập trung giải quyết trong luận án.

Chương 2: Đảng bộ Liên khu V ra đời, thực hiện công tác xây dựng Đảng (1949-1954)

Chương 2 trình bày các yếu tố tác động và diễn tiến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp:

Về bối cảnh và sự thành lập:

  • Thực hiện Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ V (tháng 8-1948), các Khu V, VI và XV được hợp nhất thành Liên khu V. Ngày 20-10-1948, Liên khu V chính thức được thành lập.
  • Tháng 3-1949, Ban Cán sự Cực Nam được thành lập để chỉ đạo các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng do đồng chí Nguyễn Đức Dương làm Bí thư.
  • Tháng 3-1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ nhất diễn ra tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đại hội bầu Liên khu ủy gồm 15 ủy viên chính thức; đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu làm Bí thư kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính. Đến tháng 3-1949, Đảng bộ có 16.000 đảng viên (trong đó có 60 đảng viên nữ và 50 đảng viên là người dân tộc thiểu số).

Về xây dựng Đảng về chính trị:

  • Đảng bộ tổ chức học tập, quán triệt các Nghị quyết của Trung ương: Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ sáu (tháng 1-1949), Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng (tháng 1-1950) về chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công.
  • Hội nghị Liên khu ủy (tháng 7-1950) thông qua "Đề án xây dựng Đảng", nhấn mạnh việc vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát động phong trào "Cần, Kiệm, Liêm, Chính".
  • Hội nghị Liên khu ủy mở rộng (tháng 12-1950 đến tháng 1-1951) chỉ đạo chỉnh đốn nhận thức về xây dựng Đảng quần chúng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình.
  • Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ II (tháng 7 đến tháng 8-1951) tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Đại hội kiểm điểm sai lầm trong việc chạy theo số lượng "Đảng quần chúng đông đảo" dẫn đến tình trạng "chi bộ đông nhưng đảng viên yếu", từ đó đề ra phương hướng xây dựng Đảng bộ thuần khiết, nâng cao chất lượng đảng viên.
  • Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị: Xây dựng và củng cố vùng tự do (phía Nam Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên); triển khai chính sách thuế nông nghiệp từ năm 1951; tổ chức chiến dịch cứu đói trong đợt hạn hán nghiêm trọng năm 1952 (với 23 vạn dân bị đói tại 4 tỉnh vùng tự do); thực hiện giảm tô năm 1953 (mức giảm trung bình 35-45%); thành lập Ban Chỉ huy miền Tây để giải quyết tình hình phức tạp sau vụ bạo động Sơn Hà (đầu năm 1950); huy động 11 triệu ngày công phục vụ chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và Hè 1954.

Về tư tưởng và tổ chức:

  • Đảng bộ mở các lớp chỉnh huấn, chỉnh Đảng theo chỉ đạo của Trung ương (cử 98 cán bộ khu và tỉnh dự lớp chỉnh Đảng do Trung ương tổ chức năm 1953); tiến hành củng cố chi bộ nông thôn gắn với phát động quần chúng giảm tô; tuy nhiên giai đoạn cuối kháng chiến xuất hiện tư tưởng máy móc, nặng về thành phần giai cấp khi thanh lọc nội bộ.

Chương 3: Đảng bộ Liên khu V xây dựng củng cố tổ chức Đảng (1954-1961)

Chương 3 tập trung vào quá trình chuyển hướng và củng cố tổ chức Đảng trong điều kiện mới:

Bối cảnh và nhân tố tác động:

  • Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, lực lượng vũ trang và nhiều cán bộ tiến hành tập kết ra miền Bắc. Liên khu V chuyển thành vùng đối phương kiểm soát hoàn toàn. Chính quyền Sài Gòn thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng" tàn bạo, gây tổn thất nghiêm trọng cho cơ sở cách mạng.
  • Từ năm 1955, Liên khu ủy V tiếp nhận thêm nhiệm vụ phụ trách Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Trị (phía Nam sông Bến Hải).

Nội dung công tác xây dựng Đảng:

  • Về chính trị: Quán triệt đường lối cách mạng miền Nam của Trung ương Đảng, giữ vững mục tiêu giải phóng dân tộc, chuyển hướng phương thức đấu tranh từ quân sự sang đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, sau đó tiếp thu Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (năm 1959) để chuẩn bị kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
  • Về tư tưởng: Tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng kiên định, chống tư tưởng bi quan, dao động, hoang mang trước sự khủng bố của địch; củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
  • Về tổ chức: Tổ chức lại hệ thống Đảng từ công khai sang hoạt động bí mật hoàn toàn; sắp xếp lại cơ quan lãnh đạo Liên khu ủy, các Tỉnh ủy; duy trì các chi bộ mật; thực hiện phương châm bám đất, bám dân để bảo vệ tổ chức, chống sự thâm nhập của mạng lưới chỉ điểm, gián điệp; xây dựng căn cứ địa cách mạng ở vùng miền núi Tây Nguyên và căn cứ bàn đạp ở nông thôn, giáp ranh.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết các đánh giá khoa học và đúc rút bài học kinh nghiệm lịch sử:

Nhận xét ưu điểm và hạn chế:

  • Ưu điểm: Đảng bộ luôn giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, xây dựng tổ chức Đảng vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, lãnh đạo phong trào vượt qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Giai đoạn 1949-1954 có thời điểm mắc bệnh chủ quan, chạy theo số lượng trong phát triển đảng viên; xuất hiện khuynh hướng máy móc, "tả" khuynh khi chỉnh đốn chi bộ theo thành phần giai cấp cuối kháng chiến chống Pháp; đầu giai đoạn 1954-1961 còn lúng túng trong việc bảo vệ tổ chức và chuyển phương thức hoạt động bí mật khiến một số địa phương bị tổn thất nặng nề.

Các bài học kinh nghiệm được đúc kết:

  • Quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, căn cứ tình hình địa phương để tiến hành xây dựng chủ trương, nhiệm vụ chính trị sát đúng.
  • Thường xuyên tiến hành công tác tư tưởng, bảo đảm và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; đề phòng và khắc phục sự máy móc, “tả” khuynh trong công tác xây dựng Đảng.
  • Xây dựng và bảo vệ tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên bảo đảm chất lượng, số lượng; dựa vào dân, vào phong tràu cách mạng để xây dựng Đảng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt tư liệu: Luận án đã dày công sưu tầm, xác minh và hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử phong phú, đặc biệt là các nguồn tài liệu lưu trữ gốc của Liên khu ủy V và các cấp bộ Đảng trực thuộc từ năm 1949 đến năm 1961. Nhiều văn bản chỉ thị, nghị quyết và số liệu báo cáo nội bộ lần đầu tiên được khai thác, đối chiếu và công bố một cách khoa học.

Về mặt nội dung khoa học:

  • Tái hiện một cách hệ thống, chân xác toàn bộ tiến trình công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trên cả ba phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức qua hai thời kỳ lịch sử có bước chuyển chiến lược (1949-1954 và 1954-1961).
  • Làm rõ sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, sự vận dụng sáng tạo cũng như những điểm hạn chế, khuyết điểm của Liên khu ủy V trong thực tiễn lãnh đạo kháng chiến và xây dựng nội bộ Đảng.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học góp phần phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Về mặt kiến nghị, giải pháp thực tiễn: Từ việc phân tích các thành công và hạn chế lịch sử, luận án khẳng định nguyên tắc bất biến là công tác xây dựng Đảng phải gắn liền với đường lối chính trị đúng đắn, dựa chắc vào quần chúng nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa củng cố tư tưởng, chỉnh đốn tổ chức với thực hiện nhiệm vụ chính trị cụ thể tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Do điều kiện chiến tranh kéo dài, nhiều tài liệu lưu trữ của các cấp bộ Đảng Liên khu V (đặc biệt là cấp chi bộ và cơ sở vùng tạm chiếm) bị thất lạc hoặc hư hại; nguồn sử liệu phục vụ việc định lượng chi tiết một số biến động đảng viên ở các vùng sâu, vùng xa trong thời kỳ 1954-1959 còn gặp nhiều giới hạn khách quan.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục sưu tầm và đối chiếu các nguồn tài liệu hồi ức, nhật ký chiến trường và lời kể nhân chứng của các cán bộ, đảng viên hoạt động bí mật tại Liên khu V trong những năm 1954-1961.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về đặc thù công tác xây dựng Đảng tại các tiểu vùng đặc biệt thuộc Liên khu V (như vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vùng tôn giáo tập trung và đô thị bị địch kiểm soát).

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với công tác đào tạo và nghiên cứu:

  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị hệ thống cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
  • Cung cấp khung phương pháp luận và dữ liệu sử liệu cụ thể cho các công trình nghiên cứu lịch sử địa phương tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Giá trị đối với hoạt động thực tiễn:

  • Cung cấp luận cứ lịch sử thực tiễn cho cấp ủy các cấp, cán bộ làm công tác tổ chức, tuyên giáo trong việc nắm vững phương thức xây dựng tổ chức đảng gắn liền với thực tiễn cơ sở, củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và phòng ngừa các biểu hiện lệch lạc, máy móc trong công tác cán bộ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đảng bộ Liên khu V được thành lập vào thời gian nào và cơ cấu ban đầu gồm những địa phương nào?
    Đảng bộ Liên khu V được thành lập vào tháng 3-1949 sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Địa bàn lãnh đạo ban đầu gồm 12 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng và Lâm Viên. Đến năm 1955, Liên khu ủy được giao phụ trách thêm tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Trị (từ bờ Nam sông Bến Hải trở vào).

  2. Tại sao Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ II (1951) lại xác định phải điều chỉnh chủ trương phát triển Đảng?
    Tại Đại hội lần thứ II (tháng 7 đến tháng 8-1951), Đảng bộ kiểm điểm và nhận định việc triển khai chủ trương "xây dựng Đảng thành một đảng quần chúng đông đảo và mạnh mẽ" trước đó đã mắc sai lầm chạy theo số lượng, dẫn đến hiện tượng chi bộ phát triển đông nhưng chất lượng đảng viên còn yếu. Do đó, Đại hội đề ra phương hướng chuyển trọng tâm sang xây dựng Đảng bộ thuần khiết, chú trọng rèn luyện phẩm chất và nâng cao chất lượng đảng viên.

  3. Liên khu ủy V đã giải quyết sự việc bạo động tại huyện miền núi Sơn Hà (Quảng Ngãi) năm 1950 bằng biện pháp gì?
    Sau khi xảy ra vụ bạo động do địch kích động vào đầu năm 1950, Liên khu ủy đã thành lập "Ban Chỉ huy miền Tây" (phụ trách miền Tây Quảng Ngãi và Đông Kon Tum), chuyển hướng công tác lấy vận động nhân dân làm căn bản, tập trung chăm lo đời sống đồng bào, vận động tầng lớp trên và cô lập các phần tử phản động cầm đầu. Qua hai năm kiên trì vận động, tình hình đã được giải quyết ổn định, góp phần giữ vững vùng tự do.

  4. Nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong công tác xây dựng kinh tế vùng tự do Liên khu V giai đoạn 1949-1954 gồm những nội dung nào?
    Nhiệm vụ trọng tâm gồm: phát triển sản xuất lương thực tự túc chống địch phong tỏa; tổ chức phong trào chống hạn cứu đói năm 1952; thực hiện chính sách thuế nông nghiệp từ năm 1951 để tạo nguồn lực cho kháng chiến; thực hiện giảm tô từ năm 1953; phát triển tiểu thủ công nghiệp và xưởng quân giới phục vụ bộ đội; xây dựng làng chiến đấu và hệ thống phòng thủ ven biển.

  5. Luận án đúc kết được những bài học kinh nghiệm lớn nào từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng ở Liên khu V (1949-1961)?
    Luận án đúc kết ba bài học kinh nghiệm chính: (1) Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng gắn với thực tiễn địa phương để đề ra nhiệm vụ chính trị sát đúng; (2) Thường xuyên làm tốt công tác tư tưởng, giữ gìn đoàn kết thống nhất, phòng chống bệnh máy móc, "tả" khuynh; (3) Xây dựng, bảo vệ tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên đảm bảo cả chất lượng lẫn số lượng, dựa chắc vào dân và phong trào cách mạng của quần chúng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Hòa là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống và khách quan về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu V trong giai đoạn lịch sử đầy biến động 1949-1961. Bằng việc khai thác khối lượng lớn tư liệu lưu trữ gốc và áp dụng phương pháp lịch sử kết hợp logic, luận án đã tái hiện bức tranh toàn diện về công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng bộ trên một địa bàn chiến lược trọng yếu. Những đánh giá khoa học về thành công, khuyết điểm cùng ba nhóm bài học kinh nghiệm được rút ra trong luận án là nguồn luận cứ khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho cả nghiên cứu lịch sử Đảng và công tác xây dựng Đảng hiện nay.