đặt vấn đề một cách nghiêm túc về việc sử dụng trí thức đã làm việc dƣới chế độ cũ ở miền Nam: “Giúp anh chị em chóng trở thành những ngƣời trí thức xã hội chủ nghĩa” [21, tr.598] và “Về phần anh chị em trí thức, cần khắc phục những nhƣợc điểm nhƣ chủ quan, tự mãn, xa rời quần chúng, xa rời sản xuất, đánh giá không đúng mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể” [21, tr. Trên nền tảng quan điểm đó, công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ trí thức đƣợc thực hiện trên tinh thần đổi mới trong hệ thống giáo dục quốc dân, theo Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 11–1–1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, tiếp đó ngày 20- 4-1981, Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng ra Nghị quyết 37 về “chính sách khoa học và 16 z kỹ thuật”, đề cập toàn diện nhiệm vụ, mục tiêu, chính sách khoa học, kỹ thuật, nguyên tắc, phƣơng châm lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết cũng nhấn mạnh khoa học xã hội phải góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc…. Cùng với Nghị quyết 37, Nhà nƣớc đã xác định 76 chƣơng trình tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kế hoạch 5 năm (1981 – 1985).
Đại hội V của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31 – 3 – 1982, tại Hà Nội) tiếp tục tƣ tƣởng của Đại hội IV là đẩy mạnh công tác khoa học, kỹ thuật. Trong 5 năm, kể từ Đại hội IV đến Đại hội V, số lƣợng trí thức tăng thêm 78%. Tính đến thời điểm năm 1982, cả nƣớc hiện có trên 260 nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học. Để phát huy đƣợc vai trò của trí thức, khoa học phát triển, tổ chức và quản lý trở thành vấn đề quan trọng.
Vì vậy, Hội đồng Bộ trƣởng đã có Nghị định số 51/HHĐBT, ngày 17-5-1983, nhấn mạnh: Kết hợp chặt chẽ KH-XH, KH-TN và KH-KT, tập trung lực lƣợng vào mục tiêu trọng điểm, tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần tích cực tổ chức lại sản xuất, đổi mới hệ thống quản lý khoa học. Đó là những định hƣớng, là cơ sở pháp lý rất quan trọng để xây dựng và phát huy mạnh mẽ vai trò, vị trí của trí thức dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Trong 5 năm, kể từ Đại hội IV đến Đại hội V, số lƣợng trí thức tăng thêm 78%. Tính đến thời điểm năm 1982, cả nƣớc hiện có trên 260 nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học.
Bƣớc sang thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ngày càng coi trọng vai trò và vị trí chính trị, xã hội của các hội trí thức, quan tâm xây dựng và phát triển các hội. Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, các hội từng bƣớc kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động, bảo đảm tính chất là những tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp độc lập, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Đại hội VI của Đảng đã ghi dấu mốc đổi mới toàn diện, trong đó, đã mở ra cho trí thức một hƣớng đi mới, thể hiện vấn đề dân chủ đối với trí thức, “Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo. Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện đƣợc sử dụng đúng và phát triển.
Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức ngày nay là những ngƣời lao động xã hội chủ nghĩa, đƣợc Đảng giáo dục và lãnh đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân” [12, tr. 17 z Bƣớc sang Đại hội VII của Đảng, thành phần trí thức trong Đại hội chiếm đa số nhƣ trong 1176 đại biểu tham dự có 158 ngƣời là phó tiến sĩ, tiến sĩ, giáo sƣ cấp I, II. Số ngƣời đã qua đào tạo lý luận chính trị và quản lý kinh tế: 840 ngƣời chiếm 71,42%, trong đó đạt trình độ lý luận cao cấp là 257 ngƣời, chiếm tỷ lệ 21,85 %, đạt trình độ lý luận trung cấp: 461 ngƣời, chiếm tỷ lệ 39,2%; đã qua đào tạo quản lý kinh tế: 152 ngƣời, chiếm tỷ lệ 12, 93 %. Điều đó chứng tỏ trình độ trí thức trong Đảng đã đƣợc nâng lên rất nhiều so với những năm trƣớc đó, phản ánh quá trình nỗ lực học tập của các đảng viên.
Văn kiện Đại hội đánh giá cao những đóng góp của giới trí thức trong công cuộc đổi mới đất nƣớc. Trí thức là là lực lƣợng chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ.Việc đề cao vai trò, vị trí của trí thức cũng đƣợc khẳng định trong Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vai trò của giới trí thức đã quan trọng, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của giới trí thức ngày càng quan trọng. Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân công – nông không đƣợc nâng cao kiến thức, không dần dần đƣợc trí thức hóa thì không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa đƣợc” [13, tr. Đại hội VIII của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của nƣớc ta, quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc và tƣơng lai của đất nƣớc.
Đây là Đại hội mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là khâu đột phá trong tiến trình CNH, HĐH. Từ quan điểm: “Lấy việc phát huy nguồn lực con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [14, tr. Đại hội VIII đã xác định một nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ vững mạnh.
Phát hiện, bồi dƣỡng và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội và quản trị sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu trƣớc mắt và chuẩn bị cho bƣớc phát triển cao hơn sau năm 2000” [14, tr. Hội nghị Trung ƣơng 2, khóa VIII, ra Nghị quyết số 02–NQ/HNTW, ngày 24 – 12 – 1996 đã ra Nghị quyết“Về định hƣớng chiến lƣợc phát triển giáo dục – đào tạo 18 z trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” và Nghị quyết “Về định hƣớng chiến lƣợc phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, đặt vấn đề xây dựng những con ngƣời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa biết kế thừa, tiếp thu tinh hoa truyền thống dân tộc, vừa làm chủ tri thức và khoa học công nghệ hiện đại: “Xây dựng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội, có chí khí và hoài bão lớn, quan tâm đƣa đất nƣớc lên đến đỉnh cao mới. Phấn đấu đƣa số lƣợng cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ lên gấp rƣỡi so với hiện nay và nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ” [17, tr. Với nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển ĐNTT trên mọi lĩnh vực, ở cả trong và ngoài nƣớc của Đảng và Nhà nƣớc, ĐNTT đã không ngừng lớn mạnh về cả số lƣợng và chất lƣợng, đóng góp những vai trò quan trọng vào công cuộc đổi mới của đất nƣớc.
Tính đến ngày 31–12–1994, cả nƣớc có 2.412 nghiên cứu sinh (991 hệ tập trung, 933 hệ tại chức, 488 đào tạo ngắn hạn) và 4915 học viên cao học (3546 hệ tập trung, 1369 hệ tại chức) [1]. Đại hội lần thứ IX của Đảng (họp từ ngày 19 đến ngày 22–4–2001 tại Hà Nội) đặt vấn đề: “Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc” [19, tr.37] và “Đối với trí thức, tạo điều kiện thuận lợi để thu nhận thông tin, tiếp nhận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ và văn hóa thế giới, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn. Khuyến khích tự do, sáng tạo, phát minh cống hiến. Phát hiện bồi dƣỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng với các tài năng, phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các chƣơng trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nƣớc và xây dựng đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, pháp luật” [19, tr.
Nhất quán quan điểm đối với ĐNTT, văn nghệ sỹ, tại Đại hội IX, Đảng nêu rõ:“Chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của văn nghệ sỹ, nhất là những ngƣời cao tuổi, đãi ngộ thỏa đáng với văn nghệ sỹ tài năng. Chú trọng bồi dƣỡng, đào tạo thế hệ văn nghệ sỹ trẻ” [19, tr. Đảng chú trọng vào việc tăng ngân sách đầu tƣ cho phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa nghệ thuật. Đại hội IX nêu rõ: “Tăng cƣờng 19 z đầu tƣ cho ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ” [19, tr.
Hằng năm, Nhà nƣớc dành ít nhất 2 % cho ngân sách nhà nƣớc cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Quỹ phát triển khoa học công nghệ ở các bộ và các tỉnh, thành phố đƣợc xây dựng để đầu tƣ cho việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ của các ngành và địa phƣơng. Ngày 26 – 7 – 2002 của Hội nghị Trung ƣơng 6 ( Khóa IX) ra Kết luận số 14– KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII, phƣơng hƣớng phát triển GD-ĐT, KH-CN đến năm 2005 và đến năm 2010. Đảng và Chính phủ ra chủ trƣơng tạo điều kiên để trí thức Việt Kiều đóng góp xây dựng đất nƣớc và thu hút trí thức nƣớc ngoài đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam, chủ trƣơng này của Đảng và Chính phủ đƣợc ghi rõ tại Nghị quyết số 36– NQ/TW ngày 26 – 3 – 2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài làĐảng và Nhà nƣớc ta luôn luôn coi cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nƣớc.