Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG Trong thế giới hiện đại đã chứng tỏ về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.Thực tiễn ở nước ta cho thấy không phải là vốn- dù vốn là điều kiện vật chất cơ bản, vấn đề quan trọng là phải biết phát huy trí tuệ, tay nghề, sự thông minh và sự sáng tạo không có giới hạn của con ngưòi Việt Nam. Vì vậy từ Đại hội VII Đảng ta đã xác định “ Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Trong Nghị quyết Đại hội VIII Đảng ta cũng nhấn mạnh “.
lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Tính đến năm 2003, tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước đạt khoảng 23%; trong đó đào tạo nghề đạt 15,5%. Như vậy nếu chúng ta cố gắng nhiều hơn nữa thì sẽ đạt được mục tiêu đào tạo năm 2005 do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra( tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30% trong đó đào tạo nghề đạt khoảng 18,6%). Trong thời kỳ thực hiện chiến lược CNH – HĐH rút ngắn và hội nhập, đi thẳng vào nền kinh tế tri thức theo mục tiêu Đại hội IX của Đảng thì vấn đề phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam vẫn là đòi hỏi bức bách trong nhiều năm tới, nhất là để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động từ nay đến năm 2010.
Trên cơ sở quán triệt các quan điểm chiến lược của Đảng ta về Giáo dục - Đào tạo và Dạy nghề trong thời kỳ đổi mới và cụ thể hoá vào lĩnh vực phát triển lao động kỹ thuật cần lưu ý một số quan điểm chỉ đạo phát triển lao động kỹ thuật trong thời gian tới như sau: Một là, phát triển lao động kỹ thuật, nhất là lao động kỹ thuật trình độ cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH–HĐH là yếu tố cơ bản và lực lượng nòng cốt, đầu tàu để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao khả nămg cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong quá trình phát triển và hội nhập. Đào tạo lao động kỹ thuật là một trong những phân hệ cơ bản của hệ thống Giáo dục quốc dân nói chung và hệ thống Giáo dục nghề nghiệp nói riêng được coi là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho phát triển lao động kỹ thuật là đầu tư cho phát triển. Trên cơ sở cũng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục THCS nhằm nâng cao dân trí, phải hướng ưu tiên đầu tư vào đào tạo lao động kỹ thuật cho sự nghiệp CNH – HĐH. Người thực hiện: Nguyễn Tấn Thành Trang 4 Luan van Luận văn Thạc sĩ Người hướng dẫn: PGS-TS.
Lê Sơn Hai là, phải tập trung mọi nguồn lực và bằng biện pháp nhanh chóng hình thành và phát triển hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở nước ta. Nhằm thực hiện các chương trình đào tạo lao động kỹ thuật theo nhiều cấp trình độ ( Sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề) Các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành gồm: các trường nghề, trường cao đẳng và đại học kỹ thuật, công nghệ, nghiệp vụ (hệ thực hành). Ba là, mở rộng quy mô tăng nhanh tốc độ đào tạo lao động kỹ thuật, chú trọng đào tạo CNKT, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH và chuẩn bị đội ngũ lao động kỹ thuật để có thể đi ngay vào kinh tế tri thức. Đào tạo lao động kỹ thuật phải theo phương châm “đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá” tạo bước chuyển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, từng bước đạt được trình độ phát triển lao động kỹ thuật của các nước trong khu vực.
Bốn là, phát triển đào tạo lao động kỹ thuật phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ, bảo đảm sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, gắn đào tạo với sử dụng và giải quyết việc làm. Các cơ sở đào tạo lao động kỹ thuật thực hành phải tích cực và chủ động tham gia thị trường lao động để chủ động dự báo, nắm bắt được những yêu cầu, thông tin từ thị trường lao động để điều chỉnh nội dung, chương trình, hình thức đào tạo lao động kỹ thuật cho phù hợp. Năm là, đào tạo lao động kỹ thuật là nhiệm vụ to lớn toàn Đảng, toàn Dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp đào tạo lao động kỹ thuật, đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển, đào tạo lao động kỹ thuật.
NHU CẦU CẤP BÁCH CỦA XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH CNH – HĐH 1. Về chuyển dịch cơ cấu lao động: Xuất phát từ tính tất yếu khách quan của việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH và hội nhập đòi hỏi cơ cấu lao động phải thay đổi sao cho phù hợp với cơ cấu kinh tế, đương nhiên cơ cấu lao động chỉ được hình thành hợp lý thông qua chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phù hợp. Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đào tạo kỹ thuật có mối quan hệ biện chứng, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời nhau trong tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia cũng như của từng địa phương. Đất nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy xu hướng cơ bản có tính quy luật của dịch chuyển cơ cấu lao động ở nước ta là: Người thực hiện: Nguyễn Tấn Thành Trang 5 Luan van Luận văn Thạc sĩ Người hướng dẫn: PGS-TS.
Lê Sơn Giảm tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Tăng tỷ trọng lao động tham gia sản xuất và sản xuất sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Giải phóng lao động ở các ngành có năng xuất lao động và giá trị lao động thấp, chuyển sang ngành có năng suất lao động và giá trị lao động cao nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới hiện đại. Tăng tỷ trọng lao động trong các ngành, các lĩnh vực đòi hỏi người lao động phải có trình độ văn hoá ngày càng cao và lao động qua đào tạo, kể cả lao động chuyên môn và lao động kỹ thuật nhằm tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao.
Định hƣớng điều chỉnh cơ cấu đào tạo và đào tạo lao động kỹ thuật gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động a) Hướng điều chỉnh cơ cấu đào tạo giữa các bậc học, ngành học Vấn đề từng bước điều chỉnh cơ cấu đào tạo nhân lực cả về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo là một yêu cầu khách quan và là nhiệm vụ cấp bách cả trên bình diện vĩ mô cũng như phạm vi từng cấp đào tạo. Trong dự báo của đề án quy hoạch mạng lưới đại học thì tỷ lệ ĐH-CĐ \ THCN \ CNKT sẽ có sự thay đổi như sau: 1 \ 1,75 \ 5,5 năm 2005 và 1 \ 1,9 \ 6,8 năm 2010. Tuy nhiên cần lưu ý tỷ lệ này khác nhau ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhau. Về cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng đang cần có những biện pháp điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo hướng: Ở bậc ĐH-CĐ cần tăng tỷ trọng đào tạo các ngành kỹ thuật công nghệ; nông,lâm, ngư nghiệp; giảm tỷ trọng đào tạo các ngành kinh tế và luật đã có dấu hiệu cung vượt cầu do quy mô tăng quá nhanh trong những năm qua.
Tăng quy mô đào tạo kỹ sư thực hành, cao đẳng công nghệ và kinh tế thay thế một phần đào tạo THCN không còn phù hợp với nhu cầu sử dụng ở một số ngành nghề hiện nay. Riêng về đào tạo nghề cơ cấu đào tạo cũng cần tiếp tục điều chỉnh theo hướng tăng quy mô đào tạo các ngành cơ khí, điện, điện tử, gia công chế biến…nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao của các khu công nghiệp, khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh cũng như nhu cầu nhân lực của các chương trình phát triển kinh tế xã hội của các ngành và các địa phương. b) Định hướng đào tạo lao động kỹ thuật gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động. Sự nghiêp CNH – HĐH yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp, do vậy đào tạo lao động kỹ thuật phải gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động Người thực hiện: Nguyễn Tấn Thành Trang 6 Luan van Luận văn Thạc sĩ Người hướng dẫn: PGS-TS.
Lê Sơn theo hướng tương ứng. Nên trong quá trình đào tạo phải quán triệt định hướng theo hướng cơ bản sau: Xây dựng và phát triển cơ sở đào tạo nghề theo hướng hình thành cơ cấu lao động kỹ thuật theo 3 cấp trình độ: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề (bao gồm cả kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ trình độ cao, cao đẳng công nghệ, nghiệp vụ hệ thực hành) và liên thông giữa các cấp trình độ đào tạo nghề, liên thông giữa đào tạo nghề và các trình độ đào tạo khác trong hệ thống Giáo dục quốc dân. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hai hướng: Tăng tỷ trọng đào tạo CNKT, nhân viên nghiệp vụ lành nghề và trình độ cao trong tổng quy mô đào tạo nghề hàng năm, tập trung cũng cố và xây dựng một số trường dạy nghề chất lượng cao để đào tạo đội ngũ CNKT , nhân viên nghiệp có trình độ cao đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động và chuyên gia. Chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn, đặt biệt là phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đáp ứng nhu cầu phổ cập nghề nghiệp cho người lao động để tìm kiếm việc làm, giải quyết nông nhàn nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo.