Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện CS ĐT, BD viên chức. Thực trạng thực hiện CS ĐT, BD viên chức tại Sở NN và PTNT tỉnh Bình Định. Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện CS ĐT, BD viên chức tại Sở NN và PTNT tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG VIÊN CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách Chính sách là một thuật ngữ rất phổ biến trong khoa học chính trị và khoa học CS công. Đồng thời, cũng được sử dụng trong các văn bản pháp luật, văn kiện của Đảng và Nhà nước.
Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu về CS: Theo Từ điển tiếng Việt, CS là văn bản sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, được đề ra dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế. Hay theo James Anderson (2003), CS là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn thực hiện hay không thực hiện với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân. Nguyễn Minh Thuyết (2011) thì cho rằng CS là đường lối cụ thể của một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các kế hoạch, biện pháp thực hiện đường lối ấy. Bao gồm: đường lối chung, đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), kế hoạch, biện pháp, thực hiện.
Chủ thể ban hành CS là: đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị… Vũ Cao Đàm (2011), CS là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Còn theo cách hiểu cụm từ CS mà có chức năng, vai trò của khu vực công thì sẽ được gọi là CS công. Theo đó, Phạm Quý Thọ và cộng sự (2014) cho rằng CS công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành 13 động, được Nhà nước lựa chọn và ban hành như một công cụ quản lí của Nhà nước, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng đã được lựa chọn và được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền. Cuối cùng, Nguyễn Kim Phát (2021) thì cho rằng CS hay chế độ CS được hiểu là các quy định, những chế độ của nhà nước, đơn vị, tổ chức … dành cho những đối tượng mà họ được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, dựa vào các nhận định trên, có thể khái quát CS như sau: CS là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ trên những lĩnh vực cụ thể nào đó và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Phương hướng, bản chất và nội dung của CS tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Muốn xây dụng CS đúng đắn cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững phương hướng, mục tiêu được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Mục đích của CS là để thực hiện các lợi ích, mục tiêu và nhiệm vụ của các đối tượng, lĩnh vực cụ thể.
Đào tạo, bồi dưỡng Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế ĐT, BD CC, VC Bộ Tư pháp ban hành kèm theo Quyết định 273/QĐ-BTP năm 2018 đưa ra định nghĩa ĐT, BD như sau: - ĐT là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. - BD là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. 14 Chúng ta có thể hiểu ĐT là thực hiện chương trình khóa học dài hạn (đại học, sau đại học) mà văn bản chứng minh hoàn thành là văn bằng (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ). BD là thực hiện khóa học ngắn hạn nhằm nâng cao nghiệp vụ (theo ngạch, theo chức danh, theo vị trí công tác…) và được ghi nhận hoàn thành bằng chứng nhận, chứng chỉ, gồm: + BD theo tiêu chuẩn ngạch đối với CC, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với VC là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch CC và chức danh nghề nghiệp của VC.
+ BD theo tiêu chuẩn chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý. + BD theo yêu cầu vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao. Tóm lại, ĐT, BD CC, VC được hiểu là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau. ĐT, BD CC, VC phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được các cơ quan nhà nước giao, do các cơ sở ĐT, BD CC, VC thực hiện.
ĐT, BD CC, VC giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người CC, VC có đủ năng lực đáp ứng hoạt động, làm việc, quản lý và điều hành. Thực tế ĐT và BD là hai khái niệm trọn vẹn khác nhau, tuy nhiên chúng lại có chung một mục tiêu, đó là làm cho nguồn nhân lực hoàn toàn có thể nâng cao được trình độ, năng lực giải quyết và xử lý được việc làm được cải tổ và đặc biệt quan trọng là năng lượng công tác làm việc cũng sẽ tốt hơn sau khi được ĐT, BD và học tập. Việc học tập, ĐT, BD này có được là kết quả của giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm theo một 15 cách có kế hoạch và bài bản. Mục tiêu ĐT, BD CC, VC trong môi trường cơ quan nhà nước là trang bị kiến thức về lý luận chính trị; quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ; ngoại ngữ, tin học; hội nhập kinh tế quốc tế và kỹ năng, phương pháp tác nghiệp cho đội ngũ CC, VC đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác.
Viên chức Theo quy định tại Điều 2 Luật VC năm 2010, „„VC là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật‟‟. Trong đó, Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu VC để tuyển dụng, sử dụng, quản lý VC trong đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 7, Luật VC). Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước (Điều 9, Luật VC). Hợp đồng làm việc là làm việc theo chế độ hợp đồng.
Theo khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Luật Viên chức, VC được ký một trong hai loại hợp đồng sau: + Hợp đồng làm việc xác định thời hạn: Là hợp đồng hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian từ 12 - 60 tháng. + Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn: Là hợp đồng hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức Theo Võ Kim Sơn (2007), CS, ĐT, BD là “thể hiện sự quan tâm của tổ chức đến việc phát triển kỹ năng, trình độ của người lao động” [53, tr15]. Theo khái niệm này, có thể hiểu đối tượng của CS, ĐT, BD VC làm việc trong đơn vị hành chính sự nghiệp và việc ban hành CS, ĐT, BD VC phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Bên cạnh đó, Luật cán bộ, công chức năm 2008 xác định “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng” [40, tr21]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, trên quan điểm về chính sách công và nhiệm vụ của ĐT, BD VC, với vấn đề chính của ĐT, BD VC là một định hướng mang tính chính trị quan trọng của nhà nước nhằm nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ VC. CS ĐT, BD VC được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị của Nhà nước tác động đến đối tượng VC bao gồm nhiều hoạt động từ kế hoạch ĐT, BD, xây dựng chương trình ĐT, lựa chọn phương pháp tổ chức ĐT, BD, lựa chọn người đi học, chế độ đãi ngộ đối với người học và công tác kiểm tra công tác cử VC đi học sao cho công tác ĐT, BD VC đảm bảo về chất lượng, phù hợp về số lượng để VC sau khi được ĐT, BD đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Một cách ngắn gọn hơn, CS ĐT, BD VC cũng có thể được hiểu là phương tiện thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng đối với công tác ĐT, BD VC của Nhà nước.
Căn cứ vào nội dung của CS ĐT, BD VC để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về thực hiện CS ĐT, BD VC cho phù hợp. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức Tổ chức thực hiện CS là tất yếu khách quan, một mặt để duy trì sự tồn tại của công cụ CS theo yêu cầu quản lí nhà nước, mặt khác là để đạt 17 mục tiêu đề ra của CS. Theo Nguyễn Khắc Bình (2016), thực hiện CS là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong CS thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Theo quan điểm trên thì thực hiện CS ĐT, BD VC được hiểu là quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về ĐT, BD vào thực tiễn đời sống xã hội, mà cụ thể là việc xây dựng chương trình, kế hoạch ĐT, BD kiến thức, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho VC góp phần xây dựng đội ngũ VC ngày càng vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.