lời mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách giá trong hoạt động kinh doanh dịch vụ. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng về chính sách giá đào tạo lái xe cơ giới đƣờng bộ tại Trung tâm kỹ năng thực hành xe cơ giới GTVT Thuận An thuộc trƣờng cao đẳng nghề GTVT TW III. Chƣơng 3: Hoàn thiện chính sách giá đào tạo lái xe xe cơ giới đƣờng bộ tại Trung tâm kỹ năng thực hành cơ giới GTVT Thuận An thuộc Trƣờng cao đẳng nghề GTVT TWIII. 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ.
KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH GIÁ ĐÀO TẠO.1 Khái niệm về chính sách: Theo từ điển bách khoa mở (wikipedia.org): Chính sách là tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt đƣợc và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trƣờng. Theo hoạch định và phát triển chính sách công – Học viện hành chính Hồ Chí Minh thì: Chính sách công là thái độ, quan điểm, lập trƣờng của Nhà nƣớc đối với quá trình kinh tế xã hội đƣợc thể hiện bằng một hệ thống các biện pháp nhằm thực hiện một mục tiêu cụ thể trong quá trình tiến tới mục tiêu chung. Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì chính sách là tập hợp các chủ trƣơng, các biện pháp, kế hoạch về một lĩnh vực nhất định khuyến khích đối tƣợng phụ thuộc vào chính sách thực hiện nhằm đạt đƣợc mục đích của chủ thể ra chính sách.2 Khái niệm về giá cả: Giá cả là trung tâm của kinh tế học vi mô khi nghiên cứu các hoạt động của các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng.
Giá cả cũng là một trong những điều kiện của giao dịch trao đổi giữa những khách hàng sẵn sàng mua và công ty sẵn sàng bán một sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ) nào đó. Trong thƣơng mại: Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, nghĩa là số lƣợng tiền phải trả cho hàng hoá đó. Về nghĩa rộng đó là số tiền phải trả cho một hàng hoá, một dịch vụ, hay một tài sản nào đó. 15 Trong sản xuất: Giá cả hay giá thành sản phẩm của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định.
Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp biểu hiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Theo góc độ ứng dụng Marketing vào thực tiễn kinh doanh, có thể định nghĩa giá nhƣ sau: * Với hoạt động trao đổi: Giá cả là mối tƣơng quan trao đổi trên thị trƣờng. * Với ngƣời bán: Giá cả một hàng hoá, dịch vụ là khoản thu nhập ngƣời bán nhận đƣợc về việc tiêu thụ sản phẩm đó. * Với ngƣời mua: Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà ngƣời mua phải trả cho ngƣời bán để đƣợc quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó.
Giá cả của hàng hoá nói chung là đại lƣợng thay đổi xoay quanh giá trị. Hay giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá (theo học thuyết ―Lý luận về giá trị, giá cả‖ của Kmarx). Khi cung và cầu của một hay một loại hàng hóa cân bằng với nhau thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá đó, trƣờng hợp này ít khi xảy ra. Giá cả của hàng hoá sẽ cao hơn giá trị của hàng hoá nếu số lƣợng cung thấp hơn cầu.
Ngƣợc lại, nếu cung vƣợt cầu thì giá cả sẽ thấp hơn giá trị của hàng hoá đó. Giá đóng vai trò là một yếu tố quan trọng, (trong nhiều trƣờng hợp mang tính quyết định) trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với ngƣời tiêu thụ. Thông qua giá cả, khách hàng sẽ cảm nhận về lợi ích và giá trị thu đƣợc nếu họ lựa chọn sản phẩm. Đối với công ty, giá là một trong những nhân tố có vị trí quyết định trong cạnh tranh trên thị trƣờng.
Việc định giá sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hƣởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, giá cả không phải là yếu tố mang tính chất quyết định đối với ngƣời mua; các yếu tố phi giá cả nhƣ lối sống, tâm lý, thƣơng hiệu của ngƣời bán, chất 16 lƣợng sản phẩm. còn ảnh hƣởng tới hành vi của ngƣời mua lớn hơn cả ảnh hƣởng của giá cả.3 Chính sách giá đào tạo: Chính sách giá đào tạo là tập hợp các chủ trƣơng, các biện pháp kế hoạch của cơ sở đào tạo có liên quan đến giá của hoạt động đào tạo nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của đơn vị mình nhƣ lợi nhuận, thị phần, thƣơng hiệu … Trong công tác đào tạo, giá cả chính là mức học phí. Căn cứ theo nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ thì: ―Học phí là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục‖.
Đối với giáo dục nghề nghiệp thì mức thu học phí thực hiện theo nguyên tắc chia s chi phí đào tạo giữa Nhà nƣớc và ngƣời học, học phí học đối với sơ cấp nghề và dạy nghề thƣờng xuyên thì đƣợc thu theo thỏa thuận với ngƣời học nghề. Nhƣ vậy, Nhà nƣớc khuyến khích các cơ sở đào tạo nghề tự xây dựng mức thu học phí và thoả thuận với ngƣời học nghề về mức thu học phí đó. Đối với đào tạo lái xe cơ giới đƣờng bộ thì theo thông tƣ liên tịch số 72/2011/TTLT-BTC-BGTVT ngày 27/05/2011 quy định: ―Học phí là khoản đóng góp của người học, tạo nguồn kinh phí để trang trải toàn bộ chi phí cho các cơ sở đào tạo lái xe cơ giới đường bộ. Mức thu học phí đào tạo lái xe cơ giới đường bộ được xây dựng theo từng hạng giấy phép lái xe quy định tại điều 59 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 trên cơ sở các học phần, gồm lý thuyết và thực hành lái xe”.
Căn cứ vào các quy định về cơ sở vật chất đào tạo lái xe, chƣơng trình đào tạo, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên do Bộ Giao thông vận tải ban hành và định mức về tiêu hao nhiên liệu do cơ sở đào tạo lái xe ban hành; chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; các cơ sở đào tạo lái xe cơ giới đƣờng bộ xây dựng và quyết định mức thu học phí cụ thể đối với từng hạng giấy phép lái xe chi tiết theo từng học phần. Các cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về quyết định ban hành mức thu và quản lý học phí của đơn vị. Mức thu học phí của cơ sở đào tạo lái xe cơ giới 17 đƣờng bộ phải xây dựng ổn định tối thiểu cho 1 khóa đào tạo (trừ trƣờng hợp phải điều chỉnh do giá xăng, dầu thay đổi).2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH GIÁ 1.1 Bản chất kinh tế của phạm trù giá cả. Mối quan hệ giữa giá cả và giá trị hàng hoá: Trong nền sản xuất hàng hoá, để sản xuất ra 1 loại sản phẩm thƣờng có nhiều ngƣời sản xuất cùng tham gia, nhƣng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, máy móc thiết bị không giống nhau.
Vì vậy, mức hao phí lao động cá biệt của từng nhà sản xuất sẽ khác nhau – tức là, giá trị cá biệt khác nhau. Trên thị trƣờng, ngƣời mua chỉ chấp nhận một mức giá trị của hàng hoá, đó là giá trị thị trƣờng, giá trị đƣợc ngƣời mua chấp nhận. Giá trị là lao động của ngƣời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Chất của giá trị là lao động, lƣợng giá trị là do lƣợng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định và đƣợc đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
Vì vậy, giá trị là bản chất của giá cả, giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị. Trong nền kinh tế thị trƣờng, cung và cầu là những lực lƣợng hoạt động trên thị trƣờng. Cung và cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng. Trong thực tế, khi cung bằng cầu, thì giá cả thị trƣờng ngang bằng với giá trị của hàng hoá.
Khi cung lớn hơn cầu, thì giá cả thị trƣờng thấp hơn giá trị, còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trƣờng cao hơn giá trị. Nhƣ vậy, cung và cầu thay đổi, dẫn đến làm thay đổi giá cả thị trƣờng của hàng hoá. Đồng thời, giá cả thị trƣờng cũng có sự tác động trở lại tới cung và cầu, làm cho cung, cầu từ không cân bằng trở thành cân bằng và ngƣợc lại. Trên thị trƣờng, giá cả chịu tác động của các qui luật kinh tế của thị trƣờng (qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu) nên mức giá cả của từng thứ hàng hoá luôn lên hoặc xuống theo quan hệ cung – cầu, tức là giá cả tách rời giá trị của nó.2 Mối quan hệ giữa giá cả và tiền tệ, lạm phát: Tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt đƣợc tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá.
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lƣờng giá trị của các hàng hoá. Giá trị hàng hoá đƣợc biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và do các yếu tố sau quyết định: + Giá trị hàng hoá + Giá trị của tiền + Ảnh hƣởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá Giá cả là yếu tố quyết định lƣợng tiền tệ trong lƣu thông và có ảnh hƣởng tới tốc độ lƣu thông tiền tệ. Ở mỗi thời kỳ nhất định, lƣu thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lƣợng tiền cần thiết cho sự lƣu thông.
Số lƣợng tiền này đƣợc xác định bởi qui luật chung của lƣu thông tiền tệ. Qui luật này đƣợc thể hiện nhƣ sau: P.