CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan về đào tạo nghề nghiệp 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về nghề Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề.
Có tác giả quan niệm “Nghề là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng”. Ở một khía cạnh khác, có tác giả quan niệm “ Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”. Bên cạnh đó cũng có thể hiểu, “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”.
Khái niệm về dạy nghề Luật dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 khái niệm “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Khái niệm tiêu chuẩn kỹ năng nghề Luật dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 khái niệm “Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề”. Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014 khái niệm “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, 8 kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên”. Khái niệm đào tạo nghề nghiệp Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014 khái niệm “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp 1. Các văn bản của Đảng - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI, lần thứ XII; - Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; - Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 06/6/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao; - Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn; - Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về phân luồng sau học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề. Các văn bản của Quốc hội - Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13ngày 27/11/2014; - Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội khóa 14 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020. Các văn bản của Chính phủ - Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 (Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011); - Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011); - Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020 (Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012); - Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 (Quyết định số 630/QĐ- TTg ngày 29/5/2012); - Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 9/6/2014 của Chính phủ ban hành chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản to àn diện giáo dục và đào tạo; 9 - Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; - Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 26/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; - Nghị định số 48/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2015 Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp; - Nghị định số 143/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/10/2016 Quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.
Các văn bản của tỉnh Hà Giang - Quyết định số 2022/QĐ-UBND ngày 22/9/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2020; - Quyết định số 1788/QĐ-UBND ngày 11/8/2016 của UBND tỉnh Hà Giang V/v phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2020. Quan điểm, định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp 1. Quan điểm phát triển giáo dục nghề nghiệp Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020 xác định: - Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia, đòi h ỏi phải có sự tham gia của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở dạy nghề, cơ sở sử dụng lao động và người lao động để thực hiện đ ào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động. - Thực hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước về dạy nghề, nhằm tạo động lực phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
- Nâng cao chất lượng và phát triển quy mô dạy nghề là một quá trình: vừa phổ cập nghề cho người lao động, đồng thời phải đáp ứng nhu cầu của các ngành, nghề sử dụng nhân lực có tay nghề cao trong nước và xuất khẩu lao động. - Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển dạy nghề, tập trung xây dựng các trường nghề chất lượng cao, trong đó ưu tiên các trường đạt đẳng cấp quốc tế; các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp Theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp có trình độ phát triển trung b ình (tỷ trọng các ngành công 10 nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 30% trong lao động xã hội) cũng là thách th ức to lớn đối với đào tạo nghề nghiệp và đòi hỏi đào tạo nghề nghiệp phải đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn mới. - Đào tạo nghề nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công b ằng xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Đào tạo nghề nghiệp phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế xã hội đang chuyển dịch theo hướng trở thành nước công nghiệp. - Phát triển đào tạo nghề nghiệp là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, của cả hệ thống chính trị, của người sử dụng lao động và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư cho đào tạo nghề nghiệp, đồng thời huy động mọi nguồn lực xã hội, sự tham gia của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội cho phát triển đào tạo nghề nghiệp. Giới thiệu về hệ thống đào tạo nghề nghiệp các cấp - Hệ thống dạy nghề trước khi có Luật Giáo dục nghề nghiệp Hệ thống dạy nghề bao gồm ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. + Dạy nghề trình độ Sơ cấp: nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
+ Dạy nghề trình độ Trung cấp: nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. + Dạy nghề trình độ Cao đẳng: Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công 11 nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. - Hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp - Trước hết, Luật quy định hệ thống giáo dục nghề nghiệp chỉ gồm 3 cấp trình độ là: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng. + Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề.