CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn 1. Đào tạo, nghề, đào tạo nghề Thuật ngữ “Đào tạo” thường đi liền với “Giáo dục”, trở thành cụm từ song hành “Gáo dục và Đào tạo”. Những hoạt động nhằm tác động, thay đổi về năng lực, thể chất của con người để phát triển nhân cách đầy đủ nhất, từ đó giúp họ có giá trị với xã hội được coi là hoạt động giáo dục.
Trong cách diễn giải của Từ điển tiếng Việt thì: “Đào tạo là những hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, liên kết thành hệ thống để làm cho con người trở thành những người có năng lực theo những hệ thống tiêu chuẩn nhất định.” Theo cách diễn giải trong Giáo trình kinh tế lao động, của Trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội thì: "Đào tạo được hiểu là quá trình trang bị những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể nhận được một công việc nhất định".” Từ những cách hiểu trên có thể hiểu một cách tổng quát rằng đào tạo là một quá trình nhằm trang bị các kiến thức, kỹ năng nhằm tạo ra những năng lực nhất định cho từng con người, từ đó giúp họ có khả năng thực hiện những loại hình hoạt động nhất định để tạo ra những giá trị nhất định. “Nghề” là một khái niệm tương đối phổ biến, có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau. Ở mỗi thời điểm, mỗi quốc gia, cách hiểu, diễn đạt khái niệm nghề cũng có tính lịch sử. Ở Nga, “Nghề được hiểu là một loại hoạt động lao động đòi hỏi sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”.
10 Ở Pháp, “Nghề được định nghĩa là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sinh sống”. Ở Anh, “Nghề được hiểu là một công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật”. Ở Việt Nam, khi nói đến khái niệm “Nghề” cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được truyền dạy, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”.
Nghề mang tính tương đối, phát sinh, phát triển hay mất đi do sự phát triển vận động, biến đổi của lực lượng lao động, đi cùng với nó là sự tiến bộ trình độ của nền sản xuất, sự thay đổi nhu cầu về lao động và việc làm của xã hội. Mặc dù khái niệm nghề có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng ta có thể chỉ ra một số đặc điểm nhất định của hoạt động nghề đó là: Thứ nhất: Nghề là một loại hình hoạt động, là một công việc lao động của con người, được thực hiện có tính chất lặp đi lặp lại của mỗi cá nhân cụ thể trong xã hội Thứ hai: Nghề là sự phân công lao động trong xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội, năng lực, sở trường của từng cá nhân riêng biệt. Thứ ba: Nghề là phương tiện để kiếm sống của một cá nhân. Thứ tư: Nghề là một loại hình hoạt động có kỹ năng, kỹ xảo chuyện biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo, huấn luyện nhất định.
Thứ năm: Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng vận động, biến đổi của nền kinh tế, sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội. 11 Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể dảm nhận một công việc nhất định. Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó. Theo định nghĩa của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc một nhóm nghề.
Nó bao gồm các hoạt động đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”. Tại Việt Nam, Luật giáo dục nghề nghiệp (2014) có nêu: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để họ có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Mục tiêu của đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh có năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm, hoặc học lên ở trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thanh niên nông thôn và vai trò của thanh niên nông thôn trong sự phát triển kinh tế- xã hội Thanh niên là lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xã hội và dân số đồng thời là lực lượng có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của mỗi quốc gia.
Vì vậy, đây là lực lượng thu hút được sự quan tâm, chú ý đặc biệt của mỗi quốc gia. Việc quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch lực lượng thanh niên phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng là điều tất yếu. 12 Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta luôn dành cho lực lương thanh niên những mối quan tâm lớn. khẳng định được vị thế, vai trò của lực lượng này đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Đảng ta khẳng định “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc; là lực lượng chủ yếu của nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo” [2]. Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia khác nhau nên quan niệm, nhìn nhận về lực lượng thanh niên cũng có nhiều khác nhau. Theo chương trình sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) định nghĩa: Thanh niên là lực lượng có độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi; Theo tổ chức Y tế thế giới thì định nghĩa: Thạnh niên là lực lượng có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi. Theo quy định tại Điều 1, Luật Thanh niên năm 2020 của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 đến 30 tuổi”.
Cũng tại khoản 1, Điều 4 Luật này cũng khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Để phát huy được vai trò to lớn của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong hoạt động xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng, nhà nước cũng đã quan tâm xây dựng nguyên tắc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên cũng như các chính sách đối với lực lượng này. Khoản 1, Điều 5 Luật Thanh niên 2020 quy định: “Quyền, nghĩa vụ của thanh niên được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực 13 hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của thanh niên; Nhà nước, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện để thanh niên thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Chính sách của nhà nước đối với thanh niên phải bảo đảm mục tiêu phát triển thanh niên; Tạo điều kiện cho thanh niên thực hiện, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và phát huy năng lực; Được xây dựng hoặc lồng ghép trong các chính sách của ngành, lĩnh vực, địa phương; Việc xây dựng và thực hiện chính sách của nhà nước đối với thanh niên phải bảo đảm sự tham gia của thanh niên; Tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của thanh niên; Hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động hướng về tổ quốc và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Xử lý kịp thời, nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm theo quy định của Luật này” Thứ nhất, lao động là thanh niên có đặc điểm sau: * Về những ưu điểm: - Trong cơ cấu dân số, lực lượng thanh niên chiếm tỷ lệ lớn. Đây là nhóm đối tượng có sức khỏe, có khả năng học tập, tiếp thu kiến thức nhanh để ứng dụng vào trong lao động, sản xuất, tạo ra thu nhập chính cho mỗi hộ gia đình.
- Đây là nhóm người có có nhiều ưu thế về mặt thời gian, sức khỏe, và nhiều tiềm năng để phát triển trình độ, khả năng làm việc với cường độ cao. Đây cũng là nhóm người có sự quyết đoán, tinh thần khởi nghiệp, dám nghĩ, dám làm. - Khi nhà nước có những chính sách hợp lý, đúng đắn để khuyến khích họ học tập đổi mới, sáng tạo, dám lập thân, lập nghiệp thì có thể thúc đẩy 14 khuyến khích họ tham gia lao động sản xuất, tiên phong đi đầu, là đầu tàu trong phát triển kinh tế- xã hội của cả đất nước. * Về những hạn chế: - Việc chọn nghề, học nghề, định hướng nghề nghiệp và việc làm của thanh niên còn cảm tính, thiếu thực tiễn và chưa phù hợp với nhu cầu chung của xã hội.
- Ý thức tổ chức kỷ luật còn chưa cao, hay có tâm lý giao động, thiếu bền bỉ, kiên trì, hay chạy theo số đông.