Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH 1. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm “lý luận chính trị” và “đào tạo lý luận chính trị” 1. Khái niệm “lý luận chính trị” Theo Từ điển tiếng Việt, Lý luận là hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình hoạt động lịch sử của con người.
Như chúng ta đã biết, theo quan niệm mác.xít, bằng hoạt động thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, con người mới có khả năng nhận thức được thế giới. Sự nhận thức của con người về thế giới là một quá trình đi từ cảm tính đến lý tính. Cụ thể là, lúc đầu con người chỉ thu nhận những tài liệu của thế giới thông qua cảm tính, kinh nghiệm; sau đó con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa., hình thành lý luận khoa học về thế giới - phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Với cách tiếp cận đó, chúng ta có thể đi đến kết luận, nhờ hoạt động thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, nhận thức, lý luận của con người được hình thành, phát triển, trong đó lý luận là cấp độ phát triển cao của quá trình nhận thức của con người, là sự phản ánh hiện thực khách quan ở trình độ cao của con người, gọi là nhận thức lý tính.
“Lý luận” là hệ thống tri thức được rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn khoa học, được khái quát bằng phương pháp khoa học làm cơ sở khoa học cho các hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, con người sáng tạo ra lý luận. Đến lượt nó, lý luận tác động trở lại và ngày càng có vị trí, vai trò to lớn trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mỗi lĩnh vực cụ thể đều phải có lý luận cụ thể cho riêng mình, đều có nhu cầu khách quan về sự phát triển lý luận cho riêng mình. Lý luận trong lĩnh vực chính trị- lý luận chính trị ra đời, phát triển cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó. 10 n “Lý luận chính trị” có thể được hiểu là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Khái niệm“Đào tạo lý luận chính trị” Lý luận chính trị mang tính đảng, mang tính giai cấp rõ rệt.
Nó được thể hiện cụ thể trong hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Lý luận chính trị có vai trò quan trọng đối với thực tiễn hoạt động chính trị. Nâng cao nhận thức lý luận chính trị là cơ sở định hướng cho hành động chính trị vận động đúng hướng và đạt mục tiêu đặt ra. Muốn nâng cao nhận thức lý luận chính trị, đòi hỏi cần phải đào tạo, giáo dục lý luận chính trị.
Công tác đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là một bộ phận cơ bản, quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đào tạo lý luận chính trị nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong các thời kỳ lịch sử. Thông qua đó, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện đường lối chính trị, đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội; đồng thời, thông qua công tác này mà chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thấm sâu vào quần chúng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Nói về vai trò của công tác giáo dục lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có lý luận chính trị thì chí khí kém cương quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”.
11 n Từ sự phân tích về vai trò của đào tạo lý luận chính trị nêu trên, có thể hiểu: “Đào tạo lý luận chính trị” là quá trình hoạt động làm cho người được đào tạo nắm vững hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Khái niệm “chính sách đào tạo lý luận chính trị” Từ nội dung các khái niệm “lý luận chính trị” và “đào tạo lý luận chính trị” như đã trình bày ở trên, có thể hiểu khái niệm về chính sách đào tạo lý luận chính trị như sau: Chính sách đào tạo lý luận chính trị là chương trình hành động của một chính đảng, một giai cấp nào đó trong đào tạo lý luận chính trị nhằm làm cho đối tượng đào tạo nắm vững hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của chính đảng đó, của giai cấp đó xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Khái niệm cán bộ cấp cơ sở Thuật ngữ cán bộ xuất hiện khá sớm trong đời sống chính trị-xã hội Việt Nam. Lúc đầu, thuật ngữ cán bộ dùng để chỉ một lớp người thoát ly gia đình đi làm cách mạng.
Họ là những chiến sĩ cách mạng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Về sau, do sự phát triển của nhận thức, thuật ngữ "cán bộ" còn được dùng để chỉ những người giữ những chức vụ, chức danh trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Họ là bộ khung, nòng cốt của một tổ chức. Tên gọi "cán bộ" thể hiện sự trân trọng của quần chúng, nhân dân đối với những người có chức, danh trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đã từng để lại dấu ấn tốt đẹp trong tâm trí của quần chúng, nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo.
Cho đến nay, thuật ngữ "cán bộ" được hiểu ở nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra khái niệm “cán bộ” theo hai cách hiểu khác nhau: (1) "cán bộ” là những người làm việc và ăn lương nhà nước; (2) “cán bộ” là những người giữ chức vụ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. 12 n Với cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất rằng: Cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, có vị trí, vai trò nòng cốt, quan trọng trong tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của tổ chức, các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức. Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã viết: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Từ sự phân tích cụ thể như trên, có thể hiểu, “cán bộ cấp cơ sở” là những người được bẩu cử, bổ nhiệm vào một chức danh, giữ một chức vụ trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể của hệ thống chính trị cấp cơ sở. Họ là bộ khung, nòng cốt, những người đứng đầu, giữ các trọng trách cơ bản của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở. Khái niệm “công chức cấp cơ sở” - Như chúng ta đã biết, “Công chức nhà nước” là những người làm việc trong cơ quan nhà nước do tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm, giữ một nghĩa vụ nhất định hoặc tiến hành những hoạt động cụ thể nào đó để phục vụ việc thực hiện một chức vụ nhất định do Nhà nước trả lương theo chức vụ hoặc loại hoạt động đó. - Từ nội dung khái niệm nêu trên, có thể thấy rõ, công chức nhà nước có những đặc trưng chủ yếu sau: + Công chức nhà nước bao giờ cũng là người thực hiện một công vụ nào đó của Nhà nước.
Họ phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước và do vậy họ cũng được trao những quyền hạn nhất định để hoàn thành nghĩa vụ của mình. Trong quá trình thực hiện công cụ của mình, công chức chỉ được hành động trong phạm vi quyền hạn được giao. 13 n + Hoạt động thi hành công vụ của công chức không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất. Nó là những hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý nhà nươc nói chung.
+ Công chức được hưởng lương do ngân sách nhà nước trả. Về phân loại công chức nhà nước, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003 quy định: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm:. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố Trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; .