phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và các bảng biểu, luận văn chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Quan điểm, định hƣớng và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dƣơng từ 2011 đến năm 2020. 7 CHƢƠNG 1 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ.
Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. Các khái niệm về nguồn nhân lực. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực: Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp: Nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm. Nhƣ vậy theo quan điểm này thì những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng không muốn có việc làm thì không đƣợc xếp vào nguồn nhân lực xã hội.
Theo Liên Hợp quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức năng lực, toàn bộ cuộc sống của con người hiện có, thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Quan điểm trên của Liên hiệp quốc chƣa toàn diện vì nó mới chỉ đề cập đến mặt chất lƣợng của nguồn nhân lực trên phƣơng diện trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực lao động, song lại thiếu các yếu tố khác nhƣ phong cách, đạo đức, lối sống của ngƣời lao động. Theo quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam: “ Nguồn lực con người là quí báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn nhân lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” đó là:“ Người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học hiện đại ” [5,tr. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phƣơng diện: trí lực, thể lực và nhân cách.
Cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền với khoa học hiện đại.TS Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học cho rằng: “ Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực thực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó. Quan điểm của GS. Phan Minh Hạc và các nhà khoa học đã có những đóng góp, bổ sung và hoàn thiện hơn quan điểm của Liên hiệp quốc.
Các tác giả bổ sung những yếu tố cấu thành vế lƣợng của nguồn nhân lực. Đó là trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách của con ngƣời. Đại từ điển kinh tế thị trƣờng: “Nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”. Nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội, là nguồn tài nguyên.
Tài nguyên nhân lực là tiền đề vật chất của tái sản xuất xã hội. Tài nguyên nhân lực vừa là động lực vừa là chủ thể của sự phát triển, có tính năng động trong tái sản xuất xã hội. Chính vì lẽ đó khi phân tích về nguồn tài nguyên nhân lực, phải xem xét nó trong mối quan hệ với tốc độ tăng dân số, sự phát triển của giáo dục đào tạo, nâng cao phẩm chất của ngƣời dân, và những điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất nguồn lực cho xã hội [7. Nguồn nhân lực là tổng hợp tiềm năng lao động của con ngƣời trong một quốc gia, một vùng, một khu vực, một địa phƣơng trong một thời điểm cụ thể nhất định.
Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống, lịch sử, văn hóa, dân tộc) của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [10. 9 Tổng hợp những khái niệm trên, tôi cho rằng khái niệm nguồn nhân lực của một quốc gia, một vùng, một tỉnh thành hay một địa phƣơng đƣợc hiểu đầy đủ nhƣ sau : Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động và những ngƣời trên độ tuổi lao động), những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng chƣa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những ngƣời đang đƣợc đào tạo trong các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…). Điều đó có nghĩa là, số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân bố theo vùng, khu vực và lãnh thổ; Trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con ngƣời, vì thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực.
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phƣơng tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy đƣợc lợi thế khi thể lực con ngƣời đƣợc phát triển. Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống.
Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của ngƣời lao động, đƣợc kết tinh từ một loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo 10 nhóm, khả năng hội nhập với môi trƣờng đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống. Nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động (theo Bộ Luật Lao động) và ngoài độ tuổi lao động nhƣng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Số lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất ngƣời lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phƣơng. Trong một chừng mực nào đó nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, nhƣng nói về nguồn nhân lực là nói tới chất lƣợng của lao động 1.2 Phát triển nguồn nhân lực.
Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lƣợng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nƣớc làm giàu cho xã hội. Phát triển nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên hai mặt chất và lƣợng. Về chất phát triển nguồn nhân lực phải đƣợc tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trƣờng thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển; về lƣợng là gia tăng số lƣợng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản. Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tƣ vào các các yếu tố của quá trình sản xuất. Cần lƣu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tƣ thì đầu tƣ vào con ngƣời, đầu tƣ cho nguồn nhân lực là đầu tƣ quan trọng nhất. Đầu tƣ cho con ngƣời đƣợc thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại nhà trƣờng, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế…. 11 Phát triển nguồn nhân lực dƣới góc độ của một đất nƣớc là quá trình tạo dựng một lực lƣợng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao, có kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả.
Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lƣợng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động. Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trí lực có đƣợc nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm. Thể lực có đƣợc nhờ vào chế độ dinh dƣỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trƣờng làm việc….
Sự cần thiết phát triển nguồn nhân lực. Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc đòi hỏi phải có nguồn nhân lực không chỉ về chất lƣợng và số lƣợng mà còn phải có một cơ cấu đồng bộ. Nguồn nhân lực đƣợc coi là vấn đề trung tâm của sự phát triển. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định “ Nguồn lực con ngƣời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững” [5, tr108] “con ngƣời và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nƣớc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [6, tr 201].
Nguồn lực con ngƣời là điểm cốt yếu nhất của nguồn nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con ngƣời và nâng cấp chất lƣợng nguồn nhân lực.