Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN TẠI CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về bồi dưỡng Theo quy định tại mục 2, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2018 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Tại Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, không đề cập đến khái niệm về bồi dưỡng, nhưng thông qua các quy định về hình thức bồi dưỡng tại Điều 15 và nội dung bồi dưỡng tại Điều 16 của Nghị định này, chúng ta có thể hiểu và rõ hơn về khái niệm bồi dưỡng.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2020), Bồi dưỡng: “Làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ. Bồi dưỡng sức khỏe và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Bồi dưỡng cán bộ trẻ, bồi dưỡng đạo đức”. Bồi dưỡng khác với đào tạo.
Nếu như đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học, thì bồi dưỡng là quá trình giúp cho người học được cập nhật, bổ sung, bù đắp những kiến thức, kỹ năng cụ thể gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, công việc cụ thể. Ở cách tiếp cận chung nhất, bồi dưỡng được xem là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với yêu cầu thực tiễn và khả năng đảm nhận sự phân công lao động nhất định. Bồi dưỡng là quá trình làm cho người học được “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.
8 Bồi dưỡng là quá trình liên tục nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kiến thức kỹ năng nghiệp vụ trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó hoặc trang bị thêm kiến thức về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, để người học được cung cấp toàn diện kiến thức về mọi mặt, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Khối lượng kiến thức, kỹ năng bồi dưỡng được quy định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối tượng học. Giảng viên Tại Điều 70 Luật Giáo dục (2015) quy định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, trung cấp và cơ sở giáo dục khác gọi là giáo viên.
Nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng gọi là giảng viên" Theo quy định tại Điều 54, Luật số 34/2018/QH14 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, có quy định: - Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ; có trình độ đáp ứng quy định của Luật này, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. - Chức danh giảng viên bao gồm: trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. - Trình độ tối thiểu của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ, trừ chức danh trợ giảng; trình độ của chức danh giảng viên dạy trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là tiến sĩ. Giảng viên tại các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công tác giảng dạy các trình độ đại học và sau đại học, giảng viên còn có nhiệm vụ quan trọng là làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
9 Theo Từ điển Giáo dục học: Giảng viên được hiểu là: “1. Chức danh nghề nghiệp của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học, dưới giáo sư, phó giáo sư và giảng viên chính; 2. Tên gọi chung chỉ những người làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, ở các lớp đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ” [Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, NXB. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.
Vì vậy, có thể hiểu, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có trình độ chuyên môn phù hợp với tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên, có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ sức khoẻ để thực nhiệm vụ và có lý lịch bản thân rõ ràng, đáp ứng yêu cầu về chính trị. Khái niệm bồi dưỡng giảng viên Bồi dưỡng giảng viên là hoạt động nhằm củng cố, bổ sung, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, thái độ và các phẩm chất nghề nghiệp của giảng viên trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo trước đó hướng đến mục tiêu đội ngũ giảng viên đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong hiện tại và giai đoạn tiếp theo. Tiêu chuẩn đối với giảng viên 1. Tiêu chuẩn giảng viên theo quy định của Bộ Nội vụ Theo khoản 1 Điều 13 Thông tư 03/2023/TT-BNV, giảng viên cao cấp trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức phải đáp ứng những tiểu chuẩn sau: + Có bằng tiến sĩ phù hợp với vị trí việc làm, chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy.
+ Có trình độ lý luận chính trị theo quy định. 10 + Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học. + Sử dụng được công nghệ thông tin và ngoại ngữ theo yêu cầu của vị trí việc làm. Theo khoản 2 Điều 13 Thông tư 03/2023/TT-BNV, giảng viên chính trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau: + Có bằng thạc sĩ trở lên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy.
+ Có trình độ lý luận chính trị theo quy định. + Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học. + Sử dụng được công nghệ thông tin và ngoại ngữ theo yêu cầu của vị trí việc làm. Theo khoản 3 Điều 13, tiêu chuẩn giảng viên trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức phải có những tiêu chuẩn sau: + Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy.
+ Có trình độ lý luận chính trị theo quy định. + Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học. + Sử dụng được công nghệ thông tin và ngoại ngữ theo yêu cầu của vị trí việc làm. Tiêu chuẩn giảng viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 5 Thông tư 40/2020/TT-BGDĐT và khoản 1 Điều 2 Thông tư 04/2022/TT-BGDĐT (có hiệu lực thi hành từ ngày 19/04/2022) thì tiêu chuẩn đối với giảng viên (hạng III) cụ thể như sau: 11 “2.
Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng: a) Có bằng thạc sỹ trở lên phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; b) Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học. Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ: a) Nắm vững kiến thức cơ bản của môn học được phân công giảng dạy; có kiến thức tổng quát về một số môn học có liên quan trong chuyên ngành đào tạo được giao đảm nhiệm; b) Hiểu và thực hiện đúng mục tiêu, kế hoạch, nội dung, chương trình các môn học được phân công thuộc chuyên ngành đào tạo. Xác định được thực tiễn và xu thế phát triển đào tạo, nghiên cứu của chuyên ngành ở trong và ngoài nước; c) Sử dụng có hiệu quả và an toàn các phương tiện dạy học, trang thiết bị dạy học, có phương pháp dạy học hiệu quả, phù hợp với nội dung môn học; giảng dạy đạt yêu cầu trở lên; d) Có khả năng nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào giảng dạy và các công việc được giao; đ) Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng ngoại ngữ trong thực hiện các nhiệm vụ của chức danh giảng viên (hạng III)." Theo khoản 2 Điều 6, Thông tư 40/2020/TT-BGDĐT và khoản 1 Điều 2 Thông tư 04/2022/TT-BGDĐT (có hiệu lực thi hành từ ngày 19/04/2022) thì tiêu chuẩn đối với giảng viên chính (hạng II) cụ thể như sau: “2. Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng: a) Có bằng thạc sỹ trở lên phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; 12 b) Có chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên chính (hạng II).
Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; a) Có kiến thức vững vàng về các môn học được phân công giảng dạy và kiến thức cơ bản của một số môn học có liên quan trong chuyên ngành đào tạo được giao đảm nhiệm; b) Hiểu và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, kế hoạch, nội dung, chương trình các môn học được phân công đảm nhiệm; nắm bắt kịp thời yêu cầu thực tiễn đối với chuyên ngành đào tạo; c) Chủ trì thực hiện ít nhất 01 (một) nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên; d) Chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất 01 (một) sách phục vụ đào tạo, được hội đồng khoa học (do thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt thành lập) thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ đại học trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN; d) Tác giả của ít nhất 03 (ba) bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN; c) Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng ngoại ngữ trong thực hiện các nhiệm vụ của chức danh giảng viên chính (hạng II); g) Viên chức dự thi hoặc xét thăng hạng từ chức danh nghề nghiệp giảng viên (hạng III), mã số V.03 lên chức danh nghề nghiệp giảng viên chính (hạng II), mã số V.02 phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giảng viên (hạng III), mã số V.