Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhiều quốc gia trên thế giới đều đặt ĐNGV vào vị trí ưu tiên trong cải cách và phát triển giáo dục. Vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp hiệu quả thiết thực.
Phát triển nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, cũng như của từng lĩnh vực. Tác giả Mary Louise Kearney (Mỹ) trong cuốn sách “Phát triển đội ngũ nhân viên chất lượng cao cho thế kỷ XXI” [39] đã bàn tới những biện pháp giáo dục, bồi dưỡng phong cách làm việc, kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, trình độ công nghệ thông tin và kỹ năng ứng xử, giao tiếp. cho đội ngũ nhân viên. Coi đây là khâu hết sức quan trọng của phát triển nguồn nhân lực.
Trong lĩnh vực giáo dục học và khoa học quản lý giáo dục đã có khá nhiều công trình bàn về vai trò, nội dung phát triển đội ngũ nhà giáo. Những nghiên cứu này thường xuất phát từ việc đánh giá cao vai trò của nhà giáo trong sự nghiệp giáo dục để đi tới xác định mục tiêu, nội dung phát triển đội ngũ nhà giáo. Điều đó có thể nhận thấy qua những tác giả, tác phẩm sau: R. Sing - chuyên gia giáo dục của UNESCO cho rằng “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những GV làm việc cho nó” [40].
Tổ chức UNESCO cũng đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng ĐNGV là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. Các trường sư phạm ở Australia, New Zealand, Canada… đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng GV để tạo 7 điều kiện tốt nhất cho GV tham gia học tập, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình. Các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc, Singapore… luôn xem nhà giáo và CBQL giáo dục là điều kiện quyết định của sự nghiệp phát triển giáo dục, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu nhà trường. Về vấn đề mục tiêu, nội dung phát triển đội ngũ nhà giáo, L.X Vưgotxki [42] thì cho rằng, dạy học là yếu tố cơ bản, cần thiết, bên trong của quá trình phát triển ở cả người dạy và người học.
Vì vậy, tổ chức tốt quá trình dạy học sẽ đưa tới sự phát triển các phẩm chất nghề nghiệp ở từng GV, thông qua đó nâng cao được chất lượng của ĐNGV trong các nhà trường. Petrovxki [41] coi sự phát triển nhân cách con người là điều kiện cần thiết để đạt được kết quả cao trong hoạt động thực tiễn. Theo ông, để hoàn thành nhiệm vụ dạy học và giáo dục, nhà giáo phải có phẩm chất nghề nghiệp tốt, năng lực sư phạm phát triển cao. Những phẩm chất và năng lực đó được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của người GV.
Từ đó ta có thể hiểu rằng, phát triển đội ngũ nhà giáo không thể không tính đến phát triển nhân cách của từng nhà giáo. Các trường phái quản lý hiện đại dựa trên cơ sở các thành tựu mới của khoa học hành vi, khoa học quản lý kinh tế, Kast và Rosenzweig cho rằng trong lịch sử loài người "việc thiết lập một tổ chức và một phương thức quản lý tương ứng hữu hiệu là một thành tựu to lớn”. Tổ chức là một hệ thống mà trong đó các thành viên cùng làm việc, hợp tác nương tựa vào nhau để tồn tại, tổ chức mang tính cơ cấu và tính thống nhất. Như vậy, tổ chức không chỉ là cơ cấu mà còn là sự thống nhất các năng lực của bộ phận lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo quản lý trong sự nỗ lực phát triển năng lực của các thành viên trong đơn vị công tác.
Một trong những biện pháp hữu hiệu để xây dựng và phát triển ĐNGV đã được các nhà nghiên cứu khẳng định: phải bồi dưỡng ĐNGV, phát huy được 8 tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ thành những người GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng nhiều biện pháp khác nhau sẽ mang lại hiệu quả. Các nghiên cứu ở trong nước Việc xây dựng và phát triển ĐNGV là một vấn đề đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị trung ương 8 khóa XI: “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" [16] thì việc phát triển nhà trường, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, việc trước tiên phải chú trọng là phát triển ĐNGV đảm bảo về trình độ, năng lực, cơ cấu, số lượng, chất lượng… Các tác giả đã chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển đội ngũ: Theo tác giả Trần Ngọc Giao, làm rõ yêu cầu năng lực của người CBQL nhà trường trong bối cảnh hiện nay là: Xác định tầm nhìn chiến lược; xây dựng văn hóa tổ chức; quản lý điều hành tổ chức; xây dựng mối quan hệ phối hợp; huy động nguồn lực; gắn kết chính trị, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Tác giả chỉ ra, cần phát triển năng lực của người GV như: năng lực gây ảnh hưởng, năng lực lựa chọn ưu tiên, năng lực giải quyết vấn đề, tầm nhìn.
Tác giả Phạm Minh Hạc khẳng định: Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, việc phát triển ĐNGV được đặt ra như một yêu cầu cấp bách hàng đầu của việc tiếp tục triển khai, điều chỉnh, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục [25]. Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng: Xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục cần phải quy tụ ba vấn đề chính: số lượng, chất lượng và cơ cấu. Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL, tác giả đã đề xuất bốn giải pháp phát triển ĐNGV: Mọi cấp quản lý giáo dục đều xây dựng được 9 quy hoạch GV cho đơn vị và gắn liền với quy hoạch này là các công việc cần triển khai để đào tạo bồi dưỡng GV theo quy hoạch; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đối với GV các cấp; có chính sách hỗ trợ tinh thần, vật chất thỏa đáng đối với GV; tổ chức lại hệ thống trường, khoa đào tạo GV [28]. Tác giả Vũ Văn Hòa trong bài “Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hàm ý chính sách cho Việt Nam” [26] đã khái quát: Tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao có nghĩa là nguồn nhân lực có phẩm chất, năng lực, trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội luôn là một vấn đề quan trọng chiến lược của mỗi quốc gia.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lồng ghép việc phát triển kinh tế với phát triển nguồn nhân lực. Nguyễn Văn Đệ khi nghiên cứu luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đại học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”[18] đã đưa ra bức tranh tổng thể về giáo dục đại học và thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở đó tác giả vạch ra phương hướng tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư; nâng cao chất lượng và điều chỉnh cơ cấu ngành của đội ngũ giảng viên. Phạm Minh Giản trong công trình nghiên cứu “Quản lý phát triển ĐNGV trung học phổ thông các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng chuẩn hóa” đã nhận định “đối chiếu với quan điểm về chuẩn hóa do Nhà nước ban hành thì đội ngũ còn nhiều bất cập: Chưa đủ về số lượng theo yêu cầu giáo dục toàn diện, chưa thật mạnh về chất lượng, chưa thật cân đối về mặt cơ cấu đặc biệt cơ cấu bộ môn, cơ cấu dân tộc” [23].
Tác giả Vũ Ngọc Hải trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về phát triển quản lý giáo dục nước ta qua 25 năm đổi mới đã chỉ ra một trong những giải pháp đổi mới quản lý giáo dục trong bối cảnh hiện nay là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ĐNGV: Phát triển đảm bảo số lượng GV, cơ cấu lại 10 ĐNGV; đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu chuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa, nâng cao chất lượng ĐNGV cả về phẩm chất và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống là việc làm thường xuyên của CBQL giáo dục. Đây chính là những nội dung cơ bản của phát triển ĐNGV theo cách tiếp cận của quản lý giáo dục. Một số khái niệm cơ bản 1. Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 1.
Giáo viên, giáo viên trung học cơ sở Theo Từ điển tiếng Việt, “GV là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” [37]. Theo Từ điển Giáo dục học, “GV là chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo. GV là người truyền đạt toàn bộ các kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình bộ môn của bậc học, cấp học…” [38]. Theo Văn bản hợp nhất Luật Giáo dục ngày 31/12/2015, tại khoản 1 và khoản 3 điều 70 đã chỉ rõ: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là GV. Nhà giáo giảng dạy trong các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”. Như vậy, GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục.