Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ĐMPPDH ở trường THCS Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ĐMPPDH ở trường THCS huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum Chương 3: Biện pháp quản lý công tác ĐMPPDH ở trường THCS huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY DOI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÁN ĐÈ 1. Trên thế giới Ngay từ thời cỗ đại, tư tưởng ĐMPPDH đã được thê hiện trong những.
quan điểm của các nhà triết học đồng thời là những nhà giáo dục. Xôcorat (469 — 399 trước CN) một trong những nhà triết học phương Tây, đã đề xuất và thực hiện một PPDH mà người đời gọi là *PPXôcơrar”", đó chính là phương pháp đàm thoại trong dạy học đang được sử dụng cho đến ngày nay. Khổng Tử (5S1- 479 trước CN) một Nhà triết học - Nhà giáo dục phương Đông lại rất coi trọng tính tích cực của học sinh trong dạy học. Ông nói “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho”.
Những tư tưởng trên đây còn nguyên giá trị cho các chủ thể quản lý ĐMPPDH trong thời đại ngày nay. Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học thế nào đề người học thích thú học tập và có những có gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng, cho HS của tôi tỉnh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng trỉ thức vào thực tiễn”.
Ông còn viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách. Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn” [46] Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS thế nào”, LF.Kharlamốp đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu trỉ thức mới. Tác giả cho rằng "Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học thuộc bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa, nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tính lôgíc sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nên tảng cho. việc hình thành các khái niệm khoa học" [46].
Thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa. học và công nghệ ( KH&CN), giáo dục thế giới đã trải qua ba cuộc cải cách, theo đó là các cuộc cải cách về PPDH. Đặc biệt cuộc cải cách lần hai vào. những năm 50 và cuộc cải cách lần ba vào những năm 80 đã nhắn mạnh nhiều đến vấn đề ĐMPPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam Ở Việt nam ngay từ những ngày đầu của nền giáo dục cách mạng, trong. thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đã viết “Từ giờ phút này trở đi, các cháu bắt đầu được hướng một nền giáo dực hoàn toàn Việt Nam.làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu”. Bức thư của người chính là cương lĩnh của nền giáo dục Việt Nam mới, là định hướng cho ĐMPPDH - Dạy học cần làm phát triển năng lực sẵn có của người học. Gần đây các vấn đề có liên quan đến ĐMPPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy).
các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ky, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam như: Văn Như Cương, Tôn Thân. Về quản lý ĐMPPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc [31, 1999]; Tran Kiểm [25, 2008]; Trần Kiều [26, 1997]; Trần Bá Hoành [24, 2008] luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tỉnh thần nghị quyết Trung ương 2 (TU) khoá VIII về GD&ĐT đã yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPDH, khắc phục lỗi truyền thụ một chiêu, rèn luyện thành nếp tư duy sắng tạo của người học ” [13, 1996] 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trường; quản lý hoạt động dạy học a. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm cùng lúc với con người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa người và người. Có nhiều quan niệm khác về quản lý, tùy quan điểm, tùy góc độ nghiên cứu.
Sau đây là một số quan niệm tiêu biểu: - GS. Hà Thế Ngữ cho rằng “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người mong muốn” [32,33, 2001].TS Trần Kiểm “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [Trần Kiểm 25, tr 45] - Khái quát hơn các tác giả ở Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thẻ quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [9, 1996].
Tuy có cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm nhữngý nghĩa chung, đó là: + Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tô chức. + Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Có thể khái quát một cách chung nhất: Quản lý được hiểu là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. b, Quản lý giáo dục ~ Theo tác giả Đặng Quốc Bảo [9, 2009] "Quản lý giáo dục (QLGD) theo nghĩa tông quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đây mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài)" - Theo tác giả Trần Kiểm [25, 2008].
Khái niệm QLGD đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thé GV, công nhân viên (CNV), tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.TS Nguyễn Ngọc Quang “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thẻ quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [Nguyễn Ngọc Quang 37, 1992]. 10 chuẩn, các chỉ số công vii „ phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh. * Các nguyên tắc quản lý Trong việc quản lý các tô chức như kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý thường vận dụng các nguyên tắc sau: ~ Nguyên tắc đảm bảo tính Đăng Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối vì thế trong quản lý chúng ta phải thường xuyên bám sát vào các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các chủ trương, chính sách và Pháp luật của Đảng và Nhà nước ~ Nguyên tắc tập trung dân chủ Đây là nguyên tắc quan trọng đảm bảo sự thành công trong công tác quản lý.
Tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyển lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý. Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống. được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch chủ trương đường lối phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực hiện. Nguyên tắc tập trung được thông qua chế độ thủ trưởng.
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tô chức. Huy động trí lực của họ, dân chủ được thể hiện ở chỗ các chỉ tiêu kế hoạch hoạt động đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện pháp trước khi quyết định. Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán. Song cũng phải biết sử dụng quyền tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm.
" ~ Nguyên tắc đảm bao tinh khoa học và thực tiễn Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải nắm được quy luật phát triển của bộ máy, nắm vững quy luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thực tế ngành mình đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham gia quản lý với tinh thần: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Quan Ij nhà trường Nhà trường (cơ sở GD&ĐT) là một cơ cấu tô chức, cũng là một bộ phận cấu thành của một hệ thông giáo dục.