Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Thiết kế và tổ chức một số HĐTN cho HS trong DH Toán 8 Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về hoạt động trải nghiệm 1. Quan niệm về hoạt động Có nhiều quan điểm khác nhau về “hoạt động”, tùy theo góc độ xem xét. Dưới góc nhìn sinh học: “HĐ là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của con người” [21].
Dưới góc nhìn Tâm lí học, A. Loenchiev quan niệm nằng: “HĐ là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của HĐ là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể. Nói cách khác, HĐ là quy luật chung nhất của tâm lí học con người, là phương thức tồn tại của con người, như vậy cuộc sống của con người là dòng chảy của HĐ” [15]. Theo Nguyễn Hữu Hậu, “HĐ là phương thức tồn tại của con người, cuộc sống con người là một dòng HĐ, con người là chủ thể của các HĐ thay thế nhau.
HĐ là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. Là quá trình chuyển hóa NL lao động và các PC tâm lí khác của bản thân vào sự vật, thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể” [14]. Từ những phân tích ở trên, kế thừa các quan niệm về hoạt động của các nhà nghiên cứu, theo chúng tôi hiểu: “Hoạt động gồm có hai thành tố chính là chủ thể và khách thể. Là mối quan hệ biện chứng giữa con người (chủ thể) và thế giới khách quan (khách thể) nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và về phía con người”.
Đặc điểm của hoạt động Theo [21], HĐ mang những đặc điểm sau: - HĐ bao giờ cũng có đối tượng: HĐ là quá trình chủ thể tác động vào thế giới khách quan cho nên nói là HĐ có đối tượng. - HĐ bao giờ cũng tồn tại chủ thể tiến hành: GV là chủ thể của HĐDH. HS là chủ thể của HĐ học tập. Chủ thể có khi là một người, có khi là một số người.
6 - HĐ vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: trong HĐ lao động người ta dùng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động. Công cụ lao động giữ vai trò trung gian giữa chủ thể lao động và đối tượng lao động, tạo ra tính chất gián tiếp trong HĐ lao động. - HĐ bao giờ cũng có mục đích nhất định: trong mọi HĐ của con người, tính mục đích nổi lên rõ rệt. Mục đích của HĐ thường là tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
Tính mục đích, gắn bó chặt chẽ với tính đối tượng. Khi có đối tượng của HĐ chủ thể theo đích đó mà hướng tới. Cấu trúc của hoạt động Theo kết quả nghiên cứu của A. Leonchev, ta có thể khái quát về cấu trúc vĩ mô của hoạt động như sau [15, tr58-62]: - Hoạt động luôn nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Khi nhu cầu gặp đối tượng thì trở thành động cơ. Như vậy, đối tượng là cái vật thể hóa yêu cầu, là động cơ tích cực của hoạt động. Nói cách khác, HĐ là quá trình hiện thực hóa động cơ. Động cơ được coi là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động.
Bất kỳ hoạt động nào cũng có động cơ tương ứng đồng thời có thể tồn tại ở dạng tinh thần bên trong chủ thể. Hoạt động với động cơ bên trong, trường hợp này gọi là hoạt động bên trong. Không chỉ như vậy, động cơ còn được vật thể hóa ra bên ngoài, HĐtrong trường hợp này gọi là hoạt động bên ngoài. Tuy nhiên, với cả hai hình thức tồn tại trên, động cơ vẫn là một - đối tượng cần chiếm lĩnh.
Như vậy, tương ứng với hoạt động của chủ thể là động cơ - đối tượng liên quan tới nhu cầu. - Như đã phân tích, động cơ là mục đích chung của hoạt động. Động cơ được phát triển theo hướng cụ thể hóa trong các mục đích bộ phận. Nói cách khác, các mục đích này là hình thức cụ thể hóa của động cơ, là bộ phận cấu thành động cơ.
Do đó, quá trình hiện thực hóa động cơ được tiến hành từng bước, từng khâu để đạt được mục đích xác định trong những hoàn cảnh cụ thể. Các quá trình đó được gọi là hành động. Hành động là quá trình bị chi phối bởi biểu tượng về kết quả phải đạt được, nghĩa là quá trình nhằm vào mục đích để dần dần tiến tới hiện thực hóa động 7 cơ. Chính vì thế, hành động là thành phần cấu tạo của hoạt động.
Hoạt động chỉ có thể tồn tại dưới hình thức những hành động ảnh hay một chuỗi những hành động. - Chủ thể chỉ có thể để đạt được mục đích bằng các phương tiện trong các điều kiện xác định. Mỗi phương tiện quy định cách thức hành động. Cốt lõi của cách thức ấy chính là thao tác.
Thao tác là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động. Nó không có mục đích riêng mà thực hiện mục đích hành động, đồng thời phụ thuộc chặt chẽ vào phương tiện, điều kiện cụ thể. - Theo [24], cấu trúc vĩ mô gồm có 6 thành tố, có mối quan hệ biện chứng với nhau: + Về phía chủ thể: Hoạt động – Hành động – Thao tác. + Về phía khách thể (đối tượng): Động cơ – Mục đích – Phương tiện.
Sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng (khách thể), giữa đơn vị thao tác và nội dung đối tượng của hoạt động tạo ra sản phẩm của hoạt động (sản phẩm kép). Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động qua sơ đồ sau: Chủ thể Khách thể Hoạt động cụ thể Động cơ Hành động Mục đích Thao tác Phương tiện Sản phẩm Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cấu trúc vĩ mô của hoạt động Việc làm rõ cấu trúc của hoạt động và mối quan hệ biện chứng của các thành tố có ý nghĩa quan trọng trong quá trình vận dụng vào giáo dục: + Cho ta thấy, hoạt động của học sinh là một hoạt động có tổ chức bắt đầu từ bên ngoài có thể kiểm soát được. Do vậy, giáo dục, về bản chất là liên tục tổ chức, điều kiển, điều chỉnh các hoạt động của học sinh. 8 + Mặc khác, nội dung tâm lí, nhân cách học sinh có nguồn góc từ bên ngoài, được hình thành từ quá trình biến thuộc tính đối tượng thành hình thức bên trong.
Quá trình đó là hoạt động của học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động có đối tượng. Vì vậy trong giáo dục cần phát huy tính chủ thể của học sinh, cụ thể là tính tự giác tích cực hoạt động. Phân loại hoạt động Theo [22] có nhiều cách phân loại hoạt động khác nhau, dựa trên các phương diện khác nhau. * Xét về phương diện phát triển cá thể có thể chia 4 hoạt động: vui chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội.
* Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần), người ta chia thành hai loại hoạt động lớn: - Hoạt động thực tiễn: hướng vào các vật thể, quan hệ tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu. - Hoạt động lý luận: diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm… tạo ra sản phẩm tinh thần. * Xét về phương diện đối tượng hoạt động: người ta có thể chia hoạt động thành 4 loại: hoạt động biến đổi, hoạt động nhận thức, hoạt động định hướng giá trị, hoạt động giao lưu, giao tiếp. Quan niệm về trải nghiệm Dựa trên [23], sự TN có thể được định nghĩa như sau: - “TN là một phạm trù triết học, là sự đúc kết kinh nghiệm thông qua các HĐ của con người ở mọi mặt, là một thể thống nhất giữa kiến thức, KN, ý chí, tình cảm.
Đặc trưng cho cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa”. - “TN là một phạm trù nhận thức luận, được rút ra từ HĐ cảm giác và thực nghiệm”. 9 - “TN là HĐ mà ngay lập tức chủ thể có thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc với thực tế, cho dù đó là thực tế bên ngoài của đối tượng và tình huống (nhận thức) hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (ý tưởng, ký ức, kinh nghiệm…)”. nhà triết học người Nga quan niệm rằng: “TN là một kiến thức thực nghiệm về thực tế; là sự thống nhất về mặt kiến thức và KN.
TN là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới khách quan và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [23]. Theo Hoàng Phê, “trải nghiệm hiểu đơn giản là con người đã từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu” [17, tr. Theo Wikipedia, “trải nghiệm là tổng quan khái niệm bao gồm tri thức, kĩ năng có được sau khi quan sát sự vật hoặc sự kiện thông qua việc tham gia, tiếp xúc trục tiếp đến sự vật hoặc sự kiện đó” [26]. Theo giáo dục học, “trải nghiệm chính là những tồn tại khách quan tác động vào giác quan con người, tạo ra cảm giác, tri giác, biểu tượng, con người cảm thấy có tác động đó và cảm nhận nó một cách rõ nét, để lại ấn tượng sâu đậm, rút ra bài học, vận dụng vào thực tiễn đời sống, hình thành các thái độ giá trị” [16].
Kế thừa các quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi hiểu trải nghiệm như sau: TN là quá trình chủ thể được trực tiếp tham gia vào các HĐ và rút ra những kinh nghiệm, kiến thức, KN cho bản thân. Đặc điểm của trải nghiệm Theo [16], trải nghiệm mang các đặc điểm sau: - Con người được tham gia vào các loại hình hoạt động, các mối quan hệ giao lưu phong phú, đa dạng một cách tự giác. - Con người được thử nghiệm, thể nghiệm bản thân trong thực tế từ đó hiểu mình hơn, tự phát hiện những khả năng của bản thân. - Con người được tương tác giao tiếp với người khác, với tập thể, với cộng đồng, với sự vật hiện tượng… trong cuộc sống.
- Con người thực sự là một chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo. 10 - Trải nghiệm luôn chứa đựng hai yếu tố không thể tách rời, đó là: hành động và xúc cảm, thiếu một trong hai yếu tố đó đều không thể mang lại hiệu quả.