CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Đặc trưng khoa học luận của khái niệm hàm số Chúng tôi sẽ tổng hợp lại các nghiên cứu khoa học luận khái niệm hàm số trong khóa luận của Nguyễn Thị Nga (2003). Có thể tóm tắt một số điểm chính của luận văn như sau: Ba đặc trưng cơ bản của hàm số là: tương ứng, phụ thuộc và biến thiên. Biểu diễn hàm số: Trong lịch sử toán học, người ta sử dụng các phương tiện khác nhau như bảng số, hình hình học, biểu thức giải tích và đồ thị.
Trong từng thời kỳ khác nhau của lịch sử toán học, khái niệm hàm số cùng ba đặc trưng và các cách biểu diễn xuất hiện một cách ngầm ẩn hay tường minh. Cụ thể, theo tài liệu của Nguyễn Thị Nga (2003) chúng tôi có bảng tóm tắt như sau: GIAI CƠ CHẾ CỦA ĐẶC TRƯNG PHƯƠNG TIỆN ĐOẠN KHÁI NIỆM CỦA KHÁI NIỆM BIỂU DIỄN + chưa có tên • Phụ thuộc (ngầm ẩn) Cổ đại + chưa có định nghĩa • Biến thiên (ngầm ẩn) • Bảng số + công cụ ngầm ẩn • Tương ứng (ngầm ẩn) • Phụ thuộc (ngầm ẩn) + chưa có tên • Biến thiên (ngầm ẩn – Trung • Bảng số + chưa có định nghĩa nhưng bước đầu được đại • Hình hình học + công cụ ngầm ẩn quan tâm nghiên cứu) • Tương ứng (ngầm ẩn) • Phụ thuộc và biến thiên + có tên • Bảng số Thế kỉ được đề cập rõ ràng hơn + chưa có định nghĩa • Đường cong hình 16 -17 trong vài nghiên cứu + công cụ ngầm ẩn học • Tương ứng (ngầm ẩn) 10 + có tên • Phụ thuộc (được đề cập + có định nghĩa (hàm tường minh trong vài số được đồng nhất với nghiên cứu) • Biểu thức giải tích Thế kỉ một biểu thức giải • Biến thiên (tường minh) 18 tích) • Tương ứng (ngầm ẩn) + công cụ tường minh + đối tượng nghiên cứu + có tên + có định nghĩa (dựa • Phụ thuộc (được đề cập • Bảng vào khái niệm tương tường minh trong vài • Biểu thức giải tích ứng giữa hai đại nghiên cứu) Nửa đầu • Đồ thị lượng) • Biến thiên (tường minh) thế kỉ 19 + công cụ tường minh • Tương ứng (tường minh) + đối tượng nghiên cứu + có tên + có định nghĩa • Phụ thuộc (ngầm ẩn) (dựa vào khái niệm • Bảng Cuối thế • Biến thiên (ngầm ẩn) tương ứng hay quan • Biểu thức giải tích kỉ 19 - • Tương ứng (tường minh) hệ giữa các phần tử • Đồ thị Thế kỉ của hai tập hợp) • Biểu đồ Ven 20 + công cụ tường minh • Các cặp phần tử + đối tượng nghiên cứu Từ sự tổng hợp trên, chúng tôi nhận thấy rằng: Qua từng giai đoạn khác nhau của lịch sử, các cách biễu diễn hàm số có sự thay đổi. Bảng số là phương tiện biểu diễn hàm số đầu tiên. Cách biểu diễn bằng bảng thường chỉ được áp dụng khi tập xác định của hàm số là hữu hạn và quy tắc tương ứng khó diễn đạt bằng một biểu thức giải tích.
Kể từ thế kỷ 18, 11 cách biểu diễn hình hình học rất ít xuất hiện. Hai cách biểu diễn đồ thị và biểu thức giải tích vẫn luôn được ưu tiên. Như vậy, trong từng cách biểu diễn thì đặc trưng hàm số được thể hiện như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi sẽ sử dụng lại kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Duyên (2012). Chúng tôi có bảng tóm tắt như sau: Các hệ thống biểu đạt Ưu điểm Nhược điểm Đại số (biểu thức giải + Cô đọng và chính xác + Không thấy được đặc tích hay công thức) mối tương quan hàm trưng phụ thuộc của hàm + Làm nổi bật đặc trưng số tương ứng của khái niệm hàm số + Dễ tính toán, biến đổi + Có thể dùng các công cụ giải tích để nghiên cứu tính liên tục, sự biến thiên, cực trị… + Xác định nhanh một số + Không phải hàm số nào Hình học (đồ thị, biểu tính chất của hàm số cũng có thể mô tả chính đồ) xác bằng đồ thị + Tìm được giá trị (đúng + Cơ sở cho việc đọc được hay gần đúng) của hàm số tính chất của đồ thị là tại 1 điểm những chứng minh chặt chẽ được thực hiện ở hệ thống biểu đạt đại số + Tìm được giá trị của + Tập xác định của hàm Bảng số hàm nhanh chóng số phải hữu hạn +Công cụ tiện lợi để ghi + Xác định giá trị của hàm kết quả nghiên cứu thực tại một giá trị ngoài bảng nghiệm cũng như muốn biết quy luật phát triển của chúng thì cần phải thực hiện sự 12 chuyển đổi Ngoài 3 hệ thống biểu đạt nêu trên, hàm số còn được biểu đạt bằng lời.
Cách biểu đạt này được đề cập trong “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Toán trung học phổ thông tỉnh Bình Thuận” của Trần Lương Công Khanh (2007). “Ví dụ 1: Xét hàm số f : * → {0,1, 2, ., 9} ⊂ với f ( n ) là chữ số thập phân thứ n trong cách viết số π trong hệ thập phân. Ví dụ 2: Xét hàm số g : * → \ {0,1} với g ( n ) là số nguyên tố thứ n.” Về tính ưu việt của hệ thống biểu đạt bằng lời, tác giả Trần Lương Công Khanh nói rõ: “Rõ ràng trong hai ví dụ trên, cách biểu đạt bằng lời là cách biểu đạt tối ưu vì hiện nay toán học chưa tìm được cách biểu đạt nào khác đối với f và g. Giả sử sẽ tìm được biểu thức giải tích của f và g trong tương lai, cách biểu đạt bằng lời vẫn là cách biểu đạt gọn nhất.
Điều này cũng cho thấy tồn tại những hàm số mà ta không thể thực hiện sự chuyển đổi hệ thống biểu đạt. Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy rằng: khái niệm hàm số phát sinh, phát triển, ngày càng mở rộng chính xác hóa và hoàn thiện do nhu cầu của thực tiễn. Cho nên, việc dạy học khái niệm hàm số không chỉ nên dừng lại ở việc đưa vào định nghĩa của nó, mà phải nắm vững các đặc trưng và các hệ thống biểu đạt của nó, cách chuyển đổi giữa các hệ thống biểu đạt và đặc biệt là áp dụng nó vào việc giải quyết các bài toán của thực tế hay của khoa học. Bởi vì các vấn đề thực tế sẽ làm nảy sinh nhu cầu sử dụng hàm số và thực hiện sự chuyển đổi hệ thống biểu đạt.
Tư duy hàm Phần này được trích từ tài liệu “Phương pháp dạy học bộ môn Toán” của tác giả Nguyễn Bá Kim (1996). Tư duy hàm là các hoạt động trí tuệ liên quan đến sự tương ứng giữa các phần tử của một, hai, hay nhiều tập hợp, phản ánh các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các phần tử của tập hợp đó trong sự vận động của chúng. Tư duy hàm có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toán học cho học sinh. Liên quan đến vấn đề phát triển tư duy hàm, tác giả Nguyễn Bá Kim (1996) cho rằng: “phát triển tư duy hàm là tập luyện cho học sinh phát hiện, thiết lập, nghiên cứu và vận 13 dụng sự tương ứng trong khi và nhằm vào truyền thụ kiến thức và rèn luyện kĩ năng toán học”.
Như vậy, đặc trưng cho tư duy hàm có thể liệt kê các hoạt động sau đây: • Phát hiện hoặc thiết lập những sự tương ứng • Nghiên cứu những sự tương ứng • Vận dụng những sự tương ứng a) Hoạt động 1 Phát hiện những sự tương ứng tức là nhận ra một mối liên hệ tương ứng tồn tại khách quan, ví dụ như sự tương ứng giữa độ dài cạnh và diện tích một hình vuông, giữa thời gian đi và quãng đường đi được, giữa các số hạng và tổng của chúng… Thiết lập sự tương ứng có nghĩa là tự tạo ra những sự tương ứng theo quy định chủ quan của mình để thuận lợi cho một mục đích nào đó, chẳng hạn sự tương ứng giữa các số thực và các điểm trên một đường thẳng, giữa tập con của tập các số tự nhiên và những que đếm… b) Hoạt động 2 Nghiên cứu những sự tương ứng nhằm phát hiện ra những tính chất của những mối liên hệ nào đó, ví dụ như diện tích của hình vuông luôn luôn bằng bình phương độ dài của cạnh. Hoạt động này bao gồm nhiều phương diện khác nhau nhưng có thể cụ thể hoá thành ba tình huống sau: Tình huống 1. Xác định giá trị ra khi biết giá trị vào; xác định giá trị vào khi biết giá trị ra; nhận biết quy tắc tổng quát của một mối liên hệ (trong các trường hợp có thể) khi cho biết các cặp phần tử tương ứng của mối liên hệ đó (hay khi cho cặp giá trị vào và giá trị ra); nhận biết tính đơn trị của sự tương ứng. Đánh giá sự biến thiên mong muốn của giá trị ra khi thay đổi giá trị vào; thực hiện một sự biến thiên mong muốn đối với giá ra bằng cách thay đổi giá trị vào; dự đoán sự phụ thuộc.
Phát triển và nghiên cứu những bất biến; những trường hợp đặc biệt và những trường hợp suy biến. c) Hoạt động 3 Vận dụng sự tương ứng: Từ chỗ nghiên cứu nắm được những tính chất của một sự tương ứng có thể vận dụng sự tương ứng đó vào một hoạt động nào đó, chẳng hạn nhờ mối liên hệ giữa diện tích hình vuông với độ dài cạnh ta có thể đo diện tích hình vuông bằng cách dùng thước dài chứ không cần phải dùng chiếc mét vuông mẩu hoặc lưới ô vuông. 14 Ba loại hoạt động này gắn bó chặt chẽ với nhau, hoạt động trước là tiền đề cho hoạt động sau và hoạt động sau là mục đích, cơ sở hình thành hoạt động trước. Như vậy, rèn luyện tư duy hàm là rèn luyện cho học sinh những khả năng, những hoạt động sau: (1) Có khả năng xem xét, nhìn nhận các đối tượng toán học dưới con mắt động, nhìn trong sự vận động, biến đổi.
(2) Phát hiện được sự tương ứng hay những mối liên hệ giữa các đối tượng, sự kiện toán học trong sự vận động và biến đổi của chúng. (3) Từ việc tìm hiểu rồi nghiên cứu được những tương ứng hay những mối liên hệ nào đó, ở mức độ cao hơn, có khả năng thể hiện (hay diễn đạt) được nội dung của các đối tượng, sự kiện toán học bằng ngôn ngữ hàm. Quá trình mô hình hóa toán học Theo Từ điển bách khoa toàn thư, mô hình hóa toán học là sự giải thích toán học cho một hệ thống toán học hay ngoài toán học nhằm trả lời cho những câu hỏi mà người ta đặt ra trên hệ thống này.