Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THCS 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Thế kỷ XXI các quốc gia trên thế giới đã khẳng định xu thế phát triển là: Sự hình thành xã hội thông tin; khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhanh chóng; xu thế toàn cầu hoá; yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường, việc làm; sự xuất hiện của kinh tế tri thức; nền công nghệ 4. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều xem phát triển giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế-xã hội.
Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho các quốc gia và tạo cơ hội học tập cho mọi người. Giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia. Hệ thống giáo dục, chương trình và phương pháp giáo dục của mỗi quốc gia tiếp tục được thay đổi nhằm xóa bỏ ngăn cách trong nhà trường, cung cấp các tri thức hiện đại, đáp ứng được yêu cầu mới phát sinh của nền kinh tế. Với xu thế chung phát triển giáo dục thế giới: Xã hội hóa; Dân chủ hóa; Hiện đại hóa; Học tập suốt đời, việc xây dựng đội ngũ giáo viên tiểu học là một trong những vấn đề quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Ở thời cổ đại, các tư tưởng quản lý sơ khai đều xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa, điển hình là tư tưởng của Xô-Crát (469-399 Tr.CN), Pla- tôn (427-347 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Khổng Tử (551-479 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng QL “Đức trị, Lễ trị”, lấy chữ Tín làm đầu, với phương châm giáo dục bình đẳng - dân chủ, nội dung giáo dục toàn diện, phương pháp giáo dục gợi mở. Với mục đích đào tạo lớp người cai trị xã hội bằng các yếu tố: nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, tín, lợi, thành để hình thành nên mẫu người quản lý như “quân tử” và “kẻ sĩ” đã có ảnh hưởng nhất định đến quản lý qua tư tưởng nhân bản “làm cho dân giàu, nước mạnh”; được các đời sau kế thừa và phát triển. Giáo dục phổ thông đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với giáo viên - những chủ thể quan trọng của quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trường. Do vậy, các nghiên cứu về giáo viên và đội ngũ giáo viên ngày càng được quan tâm.
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, V. Lê nin đã rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Người viết: "Chúng ta phải làm cho giáo viên ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản". Lê nin yêu cầu phải: "Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của giáo viên.
nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ. Trong diễn đàn Giáo dục Thế giới do UNESCO tổ chức tại Dakar, Senegal (2000) coi chất lượng giáo viên là một trong 10 yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là giáo viên có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. 6 Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục bao gồm: Hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học[43]. Nghiên cứu chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) cũng chỉ ra chất lượng giáo viên gồm 5 khía cạnh: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mà giáo viên dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng các phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.
Năm 2005 tổng kết của UNESCO xác định trong thời đại mới, đội ngũ giáo viên phải đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng nề hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục. Vai trò của giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của học sinh; coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của học sinh và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò. Song song với sự thay đổi về vai trò, giáo viên đòi hỏi phải biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, từ đó đặt ra yêu cầu đối với giáo viên cần được trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau; yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường cũng như giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh. Rõ ràng trong việc đào tạo, phát triển giáo viên tạo nên sự khác biệt, ảnh hưởng tích cực và trực tiếp tới chất lượng hiệu suất và do đó ảnh hưởng tới thành tích học tập của học sinh (Husen, Saha và Noonan, 1978; Avalos và Haddad, 1981.
Các yếu tố đặc biệt như thâm niên giảng dạy, phong cách giảng dạy, kiến thức môn học, tài liệu sách vở và cách thức sử dụng chúng, những kỳ vọng của giáo viên về hiệu quả học tập của học sinh, thời gian chuẩn bị bài giảng trên lớp, sựquản lý hoạt động của học sinh. được coi là có ảnh hưởng tới thành tích học tập (Farrell và Oliveira, 1993; Fuller và Clarke, 1994. Ngoài ra, yếu tố tiền lương giáo viên cũng ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên, từ đó tác động tới hiệu quả học tập của học sinh. Tiền lương cần phải đảm bảo hỗ trợ cho các điều kiện sống cơ bản của giáo viên để thu hút và duy trì chất lượng, giảm thiểu việc dạy thêm ngoài giờ hay thiếu sự cam kết trách nhiệm.
Coombe (1997) ghi nhận tỷ lệ bỏ việc, vắng mặt, bỏ bê nhiệm vụ và thiếu kỷ luật trong đội ngũ giáo viên ở châu Phi, điều này góp phần vào việc gia tăng tỷ lệ học sinh thiếu kỷ luật, nghỉ học. 7 Xuất phát từ lý luận về dạy học, Michel Develay (1994) bàn về các vấn đề đào tạo giáo viên như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của giáo viên, Ông quan niệm: Đào tạo giáo viên mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được [26]. Còn Anderson (2008) nhấn mạnh việc phát triển đội ngũ cán bộ giáo viên là một phần rất quan trọng trong hệ thống giáo dục vì nó ảnh hưởng đến chất lượng quá trình giảng dạy và học tập của học sinh. Phát triển đội ngũ giáo viên được tác giả xác định là “Những hoạt động chính quy và phi chính quy được tổ chức bởi cá nhân hoặc tập thể để thúc đẩy sự phát triển và làm mới đội ngũ.
Nó bao gồm một quá trình phức hợp để phát triển các kỹ năng về thực hiện cũng như kỹ năng đánh giá. Phát triển đội ngũ giáo viên không phải là hoạt động đơn lẻ mà là quá trình liên tục lâu dài và các chương trình đào tạo cần có hệ thống để trở nên có ý nghĩa với các giai đoạn khác nhau” [1]. Một trong những yếu tố then chốt quyết định thành công trong đổi mới giáo dục của các quốc gia trên thế giới là chú trọng sự phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên. Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng, giáo viên không chỉ là những đối tượng cần thay đổi để phát triển sự nghiệp giáo dục, mà giáo viên còn là lực lượng tạo nên sự thay đổi quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới, chấn hưng giáo dục của đất nước.
Vì vậy, muốn đổi mới được căn bản, toàn diện sự nghiệp giáo dục, nhất định phải chú trọng phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên. Nói cách khác, phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên là một yêu cầu then chốt của tiến trình đổi mới giáo dục. Các nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp giáo viên phục vụ yêu cầu này của đổi mới giáo dục. Trong cuốn sách “Phát triển giáo viên và thay đổi giáo dục”, tác giả M.
Hargreaves đã nghiên cứu và chỉ ra các phương diện để nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên. Trước tiên, đó là phát triển tâm lý, gồm 4 cấp độ: Tự bảo vệ, tiền đạo đức, phụ thuộc một chiều; Bảo thủ, phủ định đạo đức, tự lập; Lương tâm, đạo đức, phụ thuộc có điều kiện; tự lập, tự chủ, nguyên tắc, tích hợp. Đối với phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, gồm 6 cấp độ: Phát triển các kĩ năng tồn tại; thành thạo các kĩ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ. Đối với phát triển chu kì nghề nghiệp, gồm 5 cấp độ: Khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối quan tâm mới và trở nên chuyên nghiệp.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Đối với giáo dục Việt Nam những vấn đề đặt ra là: Đổi mới tư duy về giáo dục, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, đổi mới kiểm tra, đánh giá, giáo dục suốt đời và nâng cao trình độ công nghệ thông tin, hiện đại hoá giáo dục, học tập thường xuyên và học tập suốt đời.