Chương 1: Cơ sở Lỷ luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trưởng trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quân lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho. học sinh ở các trường trung học phổ thông tính Hậu Giang. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho.
học sinh ở các trường trung học phổ thông tỉnh Hậu Giang. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỌNG GIÁO DỤC KY NANG SÓNG CHO HỌC SINH GO CAC TRUONG TRUNG HỌC PHÔ THÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐÈ Trong giai đoạn hiện nay khi xã hội cảng phát triển, khoa học kỹ thuật cảng tiến bộ thi nhu cầu học tập của con người cảng lớn. Con người có nhu cầu muốn học đề hiểu biết, để làm việc, dé tự khẳng định bản thân va dé hoa nhập tốt hơn với công đồng ngày càng tiến bỏ.
Sinh thời, Chủ tịch Hỗ Chỉ Minh đã dạy: “Người có tải mà không có đức là người vô dụng; Người có đức mà không có tải thì lâm việc gì cũng khó”. Đối với lửa tuổi học sinh trong giai đoạn hiện nay thi “tai” - tri thức, kiến thức, kỹ năng học tập, kỹ năng lắm việc và “đức" - đạo đức, nhân cách làm người luôn là hai yếu tố song hành, gắn chặt với nhau tạo nên con người hoản thiện. Một nền giáo dục thành công. cin chăm lo phát triển cả hai mặt tải - đức cho học sinh.
Mục địch của quá trình giáo dục KNS cho học sinh lä nhằm trang bị những kỹ năng cơ bản. cần thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hôi thời hiện đại, luôn có những thay đổi trong điều kiện của một xã hôi đang trên đà phát triển vả hội nhập kinh tế quốc tế. Vĩ vậy, việc giáo dục KNS cho giới trẻ nói chung va cho hoc sinh trong nhà trường THPT hiện nay là võ củng cấp thiết. tác này cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, phủ hợp với đặc điểm tâm sinh lý lửa tuổi, hoản cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng.
và mang tính. mềm dẻo, dưới nhiều hình thức, quy mô, loại hình hoạt động. Do yêu cầu của sự phát triển KT-XH và xu thể hội nhập củng phát triển của các quốc gia nên hệ thông giáo dục của các nước đã vả đang thay đổi theo định hướng khơi dây vả phát huy tôi đa các tiềm năng của người học, đảo tạo. một thế hệ năng động sắng tạo, có những năng lực chú yếu đẻ thích ứng với những thay đổi của xã hội.
Theo đỏ vấn để giáo dục KNS cho thể hệ trẻ nói chung, cho học sinh THPT nói riêng được đông đáo các nước quan tâm. Ti hành giáo dục KNS là tiếp cận giáo dục quốc tế, đó là giáo dục con người về môi sinh, giáo dục con người vì hòa bình nhân loại, giáo dục con người vỉ cuộc sống chung, vì ngồi nhà chung là thể giới. Theo ƯNESCO, KNS gắn liền với 4 mục tiêu của giáo dục lả: học để ết, học dé lim, hoc dé lam người và học để cùng chung sống. Như KNS là tắt cả những kỹ năng cần có.
gỉ cá nhân học tập, làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Trong xã h hiện đại có đến hàng trăm KNS khác nhau. Do đỏ, tủy vào hoàn cảnh, môi trường sống, điểu kiên sống mà giáo viễn cẩn dạy cho học sinh những kỹ năng thiết yêu phủ hợp. Nghiên cứu ngoài nước Trên thể giới nhiễu ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chủ ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thể hệ trẻ.
Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX - đầu thể kỷ XXI cho thấy chí thông qua con đường. giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh. Ở các nước phương Tây, KNS đã được quan tâm từ rất lâu. giảo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng đạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người 1a gi.
con người sống và hoạt động như thể nào trong điều kiện nảo, con người xử lý bằng cách nào) và học. Về giáo dục KNS ở khu vực Asean đã được nghiên cứu vả triển khai ở nhiều nước: Giáo dục KNS ở Lảo được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phỏng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2007 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trưởng. Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống.
của con người. kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bán cho con người trong cuộc sống hàng ngày vả kỹ năng nghề nghiệp. Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét vả nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, KNS trong. đời sống gia đình".
G Bangladesh: Giéo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kỳ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai. Ở Ân Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét đưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh vẻ thể chất và tính thắn, nhằm phát triển năng lực người. Các KNS được khai thắc giáo dục la các kỹ năng: Giải quyết vấn đẻ, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định. KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoa, khoa học vả giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế thể giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong vả ngoài nước,.
ở hướng nghiên cứu nảy, các tác giá chủ yếu xây dựng hệ thông các kỹ năng của từng loại hoạt đông, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thé va các điều kiện, quy trình hình thành vả phát triển hệ thống các kỹ năng đó,. Trong chương trình nảy chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị vả kỹ năng ra quyết định. Như vậy, tổ chức cũng như các nước trên thé giới cỏ sự quan tâm nhất định đến các hiệu quả giáo dục KNS cho con người nói chung và học sinh nói riêng. Tắc giả sẽ tiếp thu có chọn lọc các hưởng nghiên cứu trên nhằm xây.
dựng cơ sở lý luận cho luận văn. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam quan điểm của nền giáo dục nước ta tử lâu đời là học để làm người, học để biết cách ứng xứ với đời. Giáo dục được coi là một trong những mục tiêu quan trọng, có ÿ nghĩa chiến lược đổi với bắt kỳ một xã hội hay quốc gia nào. Giáo dục không chỉ dừng lai ở việc đảo tạo ra con người có day đủ trí thức mã cồn đôi hỏi cả lệc dạy cách đối nhãn xứ thế, đạo đức, lối sống, các kỹ năng cẩn thiết để con người có thể thích nghỉ với cuộc sông một cách tốt nhất.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xã hôi có những chuyển biển. phức tạp, xã hôi công nghiệp đặt ra yêu cẩu cho con người khắc khe hơn. Tử lâu, cha ông ta đã nhận thức được tâm quan trọng của việc giáo dục KNS. Tuy nhiên, giáo dục KNS như một nội dung giáng dạy độc lập hẳu như không được để cập.
Những nim gin đây, Việt Nam bắt đầu bước vảo quá trình nghiên cứu, định hướng nhiều chính sách nhằm giáo dục vả phát triển KNS cho con người một cách hoàn thiên nhất, Tại Việt Nam, “Kỹ năng sống” là một trong những thuật ngữ mới xuất hiện vào giữa thể kỉ thứ XX (1995-1996). Trong giai đoạn đó, các dự án của các tổ chức phi chính phú bất đầu cỏ những chương trình về giáo dục kỹ năng. cho con người. Một trong những chương trình nỗi bật được triển khai vào thời kỳ đó chính “Giáo dục &ÿ năng sống đề bảo vệ sức khỏe và phòng chồng HIV/AIDS cho thanh thiéu nién trong và ngoài nhà trưởng”, do tỗ chức ƯNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện.
Những kỹ năng cơ bản nhất như: kỹ năng tư nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định. kỹ năng kiên định, kỳ năng xác định mục tiêu,. đã được các chuyên gia người Úc giới thiệu và trình bày trong chương trình. 10 Một chương trình khác cũng thuộc phạm vi dự án của ƯNICEF mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống" được triển khai vào giai đoạn 2.
Thời gian này, đã nhận được sự quan tâm của các tổ chức chính trị xã hỏi lớn nước ta như: Đoàn Thanh niễn Công sản Hỗ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đại diện cho hai tổ chức này có cách nhìn nhận và quan điểm khác nhau về vai trỏ của KNS đối với các nhóm đổi tượng khác nhau. Các nhà tổ chức của Hội Liên hiệp phụ nữ cho rằng: KNS sẽ phủ hợp với nhóm người để bị tốn thương như người nghèo, người vướng các tệ nạn liên Đoàn Thanh niên, họ cho rằng, KNS là bài học cẩn thiết đối với thanh niên ở khu vực thành thị hơn là vùng nông thỏn. cho cùng, KNS là công cụ cần thiết giúp con người vượt qua những khó khăn, để dàng thích nghỉ với cuộc sống.
Cỏ thể nhận thấy, ở giai đoạn nảy, "8ÿ năng sống” đã trở thành vấn để được xã hội quan tâm đến và cỏ những chương trình tác động ở mức độ tương đối. Đến năm 2003, nội hàm khái niệm của thuật ngữ “&ÿ năng sống” đã được làm rõ, hội thảo mang tên “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” da UNICEF phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức đã cụ thể hóa được một cách đầy đủ và tương đối toàn diện về thuật ngữ “ky nang sống "- Một trong những nghiên cứu đầu tiên cúa nước ta về vấn để nảy có thể kế đến là “Giáo đục kỳ năng sống ở Liệt Nam” được hai tô chức trên tiễn hành vào giai đoạn 2003-2004. Nghiên cứu nảy đã có những đánh giá tổng. quát về thực trạng nhận thức và định hướng giáo dục KNS ở Việt Nam.
Năm 2005, phạm vi nghiên cứu được cụ thể hỏa hơn đối với các nhóm đối tượng lä học sinh trung học cơ sở, THPT.