Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài GDKNS cho trẻ mầm non rất được các nước trên thế giới quan tâm và được xem là nhiệm vụ quan trọng về chiến lược phát triển kinh tế đất nước của các trường học. Kỹ năng sống là tập hợp sản phẩm của nhiều kỹ năng được phát triển đồng thời trên thực tế, khiếu hài hước khiến một người có thể quản lý và kiểm soát tốt tình huống trong tương lai.
Điều này cũng giúp con người học được cách giải phóng sự tức giận, sợ hãi, căng thẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tổ chức Lao động Thế giới đang dạy các kỹ năng sống cho trẻ em lao động sớm và đang có nguy cơ ở Indonesia, để ngăn ngừa sớm và phục hồi từ các hình thức lạm dụng trẻ em tồi tệ nhất. Ở Nga, GDKNS cho trẻ được tổ chức thông qua trò chơi đóng vai, hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, lời nói.nhằm hình thành cho trẻ nhiều kỹ năng như: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự học, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giao tiếp ứng xử tạo mối quan hệ. Tuy nhiên vấn đề đào tạo giáo viên ở Nga chưa được quan tâm, việc tổ chức các hoạt động để giáo dục kỹ năng sống chưa được thường xuyên, còn mang tính qua loa.
Ở Phần Lan, thay vì học kiến thức và vì điểm số, học sinh ở đất nước này được dạy để phát triển các kỹ năng sống. Thông qua các trò chơi, các em không chỉ được học về toán học, văn học mà còn được học các kỹ năng khác như: giao tiếp và hợp tác, tính sáng tạo và tư duy phản biện, có trách nhiệm và khả năng đột phá, thảo luận và thương thuyết, ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng sống và công việc, kỹ năng sử dụng công nghệ và phương tiện truyền thông. 8 Ở Lào, GDKNS được thực hiện với các nội dung cơ bản như: kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề. Tại Campuchia, GDKNS với vấn đề nổi bật nhất là việc xác lập các kỹ năng cần huấn luyện cho từng lứa tuổi cũng như phương pháp hiệu quả, kỹ năng sống được coi là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia.
Chương trình GDKNS trong các trường học đều hướng tới giúp người học có khả năng áp dụng kiến thức của các môn học khá nhau vào cuộc sống hiện thực để sau khi ra trường sẽ là người sống tích cự và có ích cho xã hội [19]. Cuốn sách:“Những giá trị sống và kỹ năng sống dành cho trẻ từ 3-7 tuổi” của tác giả Diane Tillman, Nhà xuất bản Trẻ đã khái quát những giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ gồm những kỹ năng sống và 12 bài học giá trị về các chủ đề Hòa bình, Tôn trọng, Yêu thương, Khoan dung, Trung thực, Khiêm tốn, Hợp tác, Hạnh phúc, Trách nhiệm, Giản dị, Tự do và Đoàn kết. Phần cuối của cuốn sách còn có 10 phụ lục về một số chủ đề; mỗi phụ lục là một câu chuyện, một ví dụ minh họa, một trò chơi trắc nghiệm theo các thẻ tình huống sát thực với chủ đề được đề cập hoặc các bài tập thư giãn, tập trung…Thông qua các tình huống, các chủ đề để GDKNS cho trẻ 3 đến 7 tuổi [16]. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vấn đề GDKNS và quản lý quá trình GDKNS cho học sinh đã sớm được đề cập trong các nghiên cứu lí luận nhằm chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục.
Nguyễn Thanh Bình thống nhất quan niệm kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, các giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng [4]. Theo chuyên gia tâm lý Huỳnh Văn Sơn quan niệm kỹ năng sống “Kỹ năng sống chính là những kỹ năng tinh thần hay kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm 9 lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển”[28]. Năm 2010, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu về đặc điểm tâm lý trẻ mầm non, những vấn đề chung về kỹ năng sống, về phương pháp, mục tiêu và cách tổ chức kỹ năng sống cho trẻ mầm non qua quyển "Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non" [25].
Năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyển “Hướng dẫn rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non” do trường Đại học quốc gia Hà Nội phát hành. Quyển sách này đã trình bày nội dung, hình thức rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non để giáo viên, cha mẹ của trẻ tham khảo và có thể áp dụng vào quá trình giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non [8]. Năm 2014, Thùy Linh, Việt Trinh cũng đã sưu tầm, hệ thống hóa và cho ra quyển "Sổ tay giáo viên năm học 2014-2015, Những vấn đề tâm huyết và giáo dục kỹ năng sống trong ngành giáo dục hiện nay" [23]. Năm 2016, Nguyễn Hữa Long - chủ biên cùng Nguyễn Ngọc Duy, Võ Minh Thành cũng đã nghiên cứu về phát triển kỹ năng sống dành cho tuổi thiếu niên [27].
Quang Lân cũng đã sưu tầm, tuyển chọn và cho ra tài liệu "Những kỹ năng sống dành cho lứa tuổi mầm non" tại sao phải dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non, hướng dẫn các kỹ năng cần thiết đối với trẻ như kỹ năng ứng xử, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng tự tin, kỹ năng thoát hiểm khi gặp hỏa hoạn, kỹ năng phòng chống đuối nước cho trẻ, kỹ năng giúp đỡ và chia sẻ, kỹ năng ứng phó với bạn xấu, kỹ năng dạy bé ăn uống lịch sự, chia sẻ những điều bố mẹ không cần quá lo lắng khi nuôi dạy con.đây cũng là một trong những tài liệu đáng tham khảo dành cho giáo viên và phụ huynh [26]. 10 Ở Đồng Tháp có Luận văn thạc sĩ giáo dục học của Trương Thị Trúc Linh nghiên cứu về "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015” [24]. Ở Hậu Giang có Luận văn thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Cẩm Tú nghiên cứu về "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mẫu giáo huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2018” [32]. Tóm lại, các công trình, bài viết nghiên cứu đã đề cập những nội dung cơ bản về kỹ năng sống, cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học trẻ, song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ ở các trường mầm non theo hướng tiếp cận nội dung.
Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ vừa mang tính cấp thiết, vừa không trùng lặp với các công trình, các đề tài nghiên cứu đã công bố nhất là trên địa bàn thị xã Hồng Ngự. Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cần bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì?) và thái độ (ta đang nghĩ gì?, cảm xúc như thế nào?.) thành hành động (làm gì và làm như thế nào?).
Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội. Đó là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lý các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong đời sống con người. Kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ các cá nhân trở thành người tích cực và có ích cho cộng đồng. 11 Kỹ năng sống còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó.
Ngoài ra, "kỹ năng sống" còn có nghĩa là khả năng ứng phó với các tình huống, nguy cơ để dự phòng đối với các vấn đề về sức khỏe (UNAIDS: 1997). Như vậy Kỹ năng sống là hành động tích cực, có liên quan đến kiến thức và thái độ trực tiếp hướng vào hoạt động của cá nhân hoặc tác động vào người khác, hoặc hướng vào những hoạt động làm thay đổi môi trường xung quanh, giúp mỗi cá nhân ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hằng ngày [9]. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống 1. Hoạt động Theo Từ điển tiếng Việt, hoạt động là làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội; hay hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau nhằm một mục đích chung trong trong một lĩnh vực nhất định Hoạt động cũng có thể hiểu là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mình với thế giới xung quanh: quan hệ giữa mình với thế giới tự nhiên (ứng xử với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống.) và quan hệ giữa mình với thế giới xã hội (quan hệ giữa mình với người khác và quan hệ giữa mình với bản thân).
Trong mối quan hệ đó có 2 quá trình: - Quá trình đối tượng hóa Chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động; Tâm lí của con người được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm - Quá trình chủ thể hóa 12 Chủ thể chuyển nội dung khách thể (quy luật, bản chất của sự vật) vào bản thân mình tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân; Là quá trình con người chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới. Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, HĐ là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể”.
Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.