Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về giáo dục mầm non 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong tập 1 của cuốn sách Giáo dục học mẫu giáo [1], tác giả A. Xôrơkina đã phân tích, làm rõ 5 nội dung cơ bản và quan trọng trong hoạt động giáo dục đối với trẻ em mẫu giáo – vỡ lòng, thể dục, trí dục, đức dục, giáo dục lao động và mỹ dục.
Trong đó, mỗi một nội dung đều làm rõ vai trò, ý nghĩa của nó đối với việc định hình và mục tiêu của sự phát triển toàn diện trong giáo dục mẫu giáo. Đặc biệt, tác giả dành một phần lớn dung lượng cuốn sách để đề cập đến nội dung đức dục, tức nội dung giáo dục về đạo đức đối với trẻ mầm non., Nguyễn Thế Trường, Phạm Minh Hạc dịch (1974), Giáo dục học mẫu giáo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tập 2 [2]: Hướng dẫn trò chơi, dạy trẻ trong giờ học, tổ chức ngày lễ và các trò vui, tổ chức quá trình giáo dục ở trường mẫu giáo. Trường mẫu giáo và gia đình, nhà trẻ và trường phổ thông. Đào tạo và yêu cầu cơ bản đối với cô mẫu giáo.
Tổ chức và quản lý trường mẫu giáo. Lescarret, Odetle - Văn Thị Kim Cúc, Nguyễn Minh Đức dịch (2001), Trẻ em, văn hoá, giáo dục: Kỷ yếu hội thảo Việt - Pháp về tâm lý học Hà Nội từ 17-18 tháng 4 năm 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội [33]: Lý luận dạy học và khoa học luận đánh giá từ khía cạnh tâm lý. Nhân cách văn hoá thông qua giáo dục tính người, tình người. Trẻ em và việc tiếp thu phát triển.
Quyền trẻ em về học hành, phát triển trí tuệ, tri thức gia đình và vai trò của các thành viên trong gia đình đối với sự phát triển của trẻ em. Học tập, sức khoẻ, tâm lý, giáo dục, xã hội hoá và sự phát triển của trẻ em. Qua nghiên cứu các tác phẩm trên đây tác giả thấy rằng, các tác phẩm đã chỉ ra các nội dung cơ bản và quan trọng trong hoạt động GDMN xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn ở phạm vi rộng lớn mà các quốc gia có thể vận dụng. Tuy nhiên các tác phẩm chưa gắn các nội dung trên vào một quốc gia, một đơn vị hành chính cụ thể.
Do vậy tác giả có thể tiếp thu, vận dụng những lý luận và thực tiễn trong các 9 luan an tác phẩm này vào Việt Nam mà cụ thể là vào hoạt động QLNN về GDMN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các nghiên cứu ở trong nước Trong tập 1 của cuốn sách Giáo dục học mầm non: Những vấn đề lý luận chung của “giáo dục học mầm non” [2] tác giả Đào Thanh Âm đã làm rõ đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của giáo dục mầm non; chỉ rõ những nội dung về nghiên cứu giáo dục và sự phát triển nhân cách; phân tích sơ lược một số tư tưởng giáo dục trong lịch sử giáo dục thế giới, mục tiêu giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam. Tác giả Phạm Minh Hạc trong ấn phẩm có tiêu đề Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục [16] đã tập hợp các báo cáo khoa học và bài nói tập trung làm sáng tỏ các vấn đề về vị trí của giáo dục đối với ba cuộc cách mạng đang tiến hành ở Việt Nam; Đối tượng của giáo dục và khoa học giáo dục; Tính chất và nhiệm vụ của nhà trường phổ thông; Phát triển giáo dục và xây dựng khoa học giáo dục. Trong tập đầu tiên của cuốn sách Giáo dục học [15] các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã đề cập tương đối hệ thống những vấn đề chung của giáo dục học; đối tượng và phương pháp của giáo dục học; mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển nhân cách; mục đích, nguyên lý giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân; những vấn đề chung về lý luận dạy học.
Trong cuốn sách có tựa đề Giáo dục học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Hà Thế Ngữ [41] bao gồm những bài viết của ông về giáo dục và giáo dục học theo chủ đề: phương pháp luận khoa học giáo dục, chiến lược và cải cách giáo dục, lý luận giáo dục, quyền trẻ em và giáo dục mầm non. Tác giả Nguyễn Tiến Lực trong cuốn sách có tựa đề Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tưởng cải cách giáo dục [36] đã giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng cải cách của hai nhà cải cách giáo dục Fukuzawa và Nguyễn Trường Tộ, đồng thời so sánh tư tưởng cải cách giáo dục của hai ông và những thay đổi có tính tích cực từ tư tưởng cải cách mà hai nhân vật trên đã tạo ra trong giai đoạn lịch sử đương thời và những ảnh hưởng về sau gắn với những quá trình chọn lọc, tiếp nhận và đề cao. 10 luan an Trong cuốn sách Giáo dục học mẫu giáo: Tài liệu học tập dùng cho giáo sinh các trường trung học sư phạm mẫu giáo [10] tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc đã xây dựng logic lý luận bao gồm các nội dung về những vấn đề chung của giáo dục học; giáo dục trẻ em tuổi nhà trẻ; giáo dục trẻ mẫu giáo và các hình thức tổ chức quá trình sư phạm trong trường mẫu giáo… làm cơ sở khoa học trong việc giảng dạy, nghiên cứu lý thuyết về giáo dục mầm non cho các đối tượng là giáo sinh trường trung học sư phạm mẫu giáo. Trong cuốn sách Sơ thảo giáo dục học đại cương: Tài liệu dùng trong trường đại học Sư phạm [53] do tác giả Nguyễn Hữu Tảo làm tổng chủ biên đã xây dựng, hệ thống những nội dung về cơ sở lý luận chung của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, phân tích một số đặc điểm và thực trạng công tác dạy học ở trường phổ thông gắn với vai trò, vị trí, yêu cầu của công tác giáo dục ở trường phổ thông.
Đồng thời, các tác giả cũng đề cập đến vai trò của hiệu trưởng trong công tác quản lý và lãnh đạo nhà trường. Trong cuốn sách Chương trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện: 4-5 tuổi [58] do hai tác Trần Thị Trọng, Phạm Thị Sửu làm chủ biên đã tập trung làm rõ những nội dung chương trình và hướng dẫn chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo từ 4-5 tuổi như: Chế độ sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng, hoạt động vui chơi, học tập, lao động. Đây là nghiên cứu đặc thù trong lĩnh vực giáo dục học đối với nhóm đối tượng là trẻ mẫu giáo, cung cấp những hiểu biết có giá trị về đặc tính tâm lý và các phương pháp giáo dục cơ bản đối với nhóm đối tượng này của hoạt động giáo dục. Tác giả Nguyễn Thu Thuỷ trong cuốn sách Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ [56] đã trình bày khả năng tạo ra những tác động tích cực của văn học trong việc giáo dục trẻ mẫu giáo.
Đồng thời, phân tích các phương pháp liên quan đến kể và đọc truyện cho trẻ mẫu giáo, các phương pháp sử dụng thơ, ca dao và đồng dao trong quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục đối với trẻ mẫu giáo ở lớp học và tại nhà. Nghiên cứu các cuốn sách trên đây tác giả thấy rằng GDMN đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc ở nhiều góc độ khác 11 luan an nhau, tuy nhiên đều nặng về lý luận và phạm vi chung, chưa gắn với một địa bàn, địa phương cụ thể một cách toàn diện, nhất là về công tác QLNN về GDMN. Tiếp thu lý luận và kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các tác phẩm trên đây đã giúp cho tác giả luận án phân tích đánh giá và đưa ra các giải pháp về công tác QLNN đối với GDMN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục 1.
Sách tham khảo Trong cuốn sách Quản lý giáo dục Việt Nam: Đổi mới và phát triển [27] do tác giả Nguyễn Mạnh Hùng làm chủ biên đã khái quát về tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam, yêu cầu tái cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo các xu hướng mở. Từ đó, các tác giả bắt đầu làm rõ một số nội dung phân cấp về QLNN, quản lý nhà trường theo mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đề cập đến nội dung xã hội hóa và thiết lập mối quan hệ đối tác công – tư trong giáo dục. Trong chương cuối của cuốn sách, các tác giả đưa ra và phân tích một số năng lực lãnh đạo trường học của hiệu trưởng trên cơ sở các yêu cầu trong đổi mới giáo dục. Trong Chương 3 của cuốn sách, các tác giả đã đi từ phân tích các khái niệm về tập trung, phi tập trung, phân cấp quản lý, phân cấp quản lý trong giáo dục.
Từ đó, đưa ra các cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận cổ điển, tiếp cận nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý giáo dục. Qua phân tích, các tác giả nhấn mạnh, đề cao vai trò của phi tập trung hóa trong quản lý giáo dục thông qua việc chỉ ra một số lợi ích của phi tập trung hóa như: Tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả, Tăng cường nguồn tài chính giáo dục, cải thiện chất lượng và phát huy sáng kiến, cải thiện phúc lợi xã hội. Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra các nguy cơ của phi tập trung hóa quản lý giáo dục. Để hạn chế các nguy cơ đó, nhóm tác giả đề xuất 9 yêu cầu cụ thể như tính đáp ứng, tính chịu trách nhiệm, tính tham gia, minh bạch… Khi đề cập đến khía cạnh quản lý giáo dục của chủ thể nhà nước (tức QLNN về giáo dục) trong bối cảnh phân cấp (phi tập trung hóa), các tác giả nêu một số chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các thiết chế trong bộ máy QLNN về giáo dục, gồm: Bộ GD&ĐT, UBND các cấp, Sở GD&ĐT (cấp tỉnh), Phòng 12 luan an GD&ĐT (cấp huyện).
Khi xem xét các chủ thể này, nhóm tác giả đã vô hình chung loại trừ vai trò của Chính phủ trong việc thống nhất QLNN về giáo dục mà trực tiếp đề cập đến vai trò cụ thể của các cơ quan khác với tính cách là cơ quan tham mưu của Chính phủ (Bộ GD&ĐT) và là cơ quan thực hiện phân cấp QLNN về giáo dục trong phạm vi quản lý cấp địa phương (UBND các cấp).