Khả Năng Chú Ý Có Chủ Định Của Trẻ Mẫu Giáo 5-6 Tuổi Ở TP.HCM

Nghiên cứu khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại một số trường mầm non ở TP.HCM. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất phương pháp nâng cao khả năng chú ý.

Trường đại học

Đại học Sư phạm TP.HCM

Chuyên ngành

Tâm lý - Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận
149
30
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI TRI ÂN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÚ Ý VÀ CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

1.1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi

1.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi

1.3. Các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi

1.4. Cơ sở lý luận về chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

1.4.1. Khái niệm chú ý

1.4.2. Khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.2. Mục đích yêu cầu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Tiêu chí và thang đánh giá khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng về khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

2.5.1. Khả năng chú ý có chủ định chung của trẻ MG 5-6 tuổi xét trên toàn mẫu

2.5.2. Khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi thể hiện qua từng bài tập (TCHT)

2.5.3. Mức độ đạt từng tiêu chí chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

2.5.4. Mức độ đạt được các tiêu chí chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi thể hiện qua từng bài tập

2.5.5. So sánh khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi ở từng nhóm đối tượng

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

3.1. Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

3.2. Cơ sở xây dựng biện pháp nhằm nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

3.3. Các biện pháp nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

3.4. Thực nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ MG 5-6 tuổi

3.4.1. Giới thiệu khái quát về tổ chức thực nghiệm

3.4.2. Tổ chức thực nghiệm

3.4.3. Phân tích kết quả thực nghiệm các biện pháp nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ 5-6 tuổi

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về khả năng chú ý có chủ định

Khả năng chú ý có chủ định là một trong những yếu tố quan trọng trong sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Tại TP.HCM, việc nghiên cứu khả năng này giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển tâm lý của trẻ. Theo các nhà nghiên cứu, khả năng chú ý có chủ định không chỉ giúp trẻ tập trung vào nhiệm vụ mà còn ảnh hưởng đến các quá trình nhận thức khác. Việc phát triển khả năng này là cần thiết để trẻ có thể chuẩn bị tốt cho các hoạt động học tập trong tương lai. Các nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ em ở độ tuổi này thường gặp khó khăn trong việc duy trì chú ý khi gặp phải những yếu tố gây phân tâm. Do đó, việc giáo dục và rèn luyện khả năng chú ý có chủ định là rất quan trọng.

1.1. Khái niệm về chú ý có chủ định

Chú ý có chủ định được hiểu là khả năng tập trung vào một nhiệm vụ cụ thể trong khi bỏ qua các yếu tố gây phân tâm. Theo William James, chú ý là trạng thái tập trung của ý thức, giúp con người nhận thức và xử lý thông tin hiệu quả hơn. Đối với trẻ mẫu giáo, khả năng này thường được phát triển thông qua các hoạt động học tập và vui chơi. Việc giáo dục trẻ về chú ý có chủ định không chỉ giúp trẻ cải thiện khả năng học tập mà còn phát triển các kỹ năng xã hội và cảm xúc. Các phương pháp giáo dục hiện nay cần chú trọng đến việc rèn luyện khả năng này thông qua các trò chơi và hoạt động tương tác.

II. Thực trạng khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi

Nghiên cứu thực trạng khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại TP.HCM cho thấy rằng, mặc dù trẻ có khả năng chú ý ở mức độ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các kết quả khảo sát cho thấy, trẻ thường gặp khó khăn trong việc duy trì chú ý khi phải thực hiện các nhiệm vụ phức tạp hoặc khi có nhiều yếu tố gây phân tâm xung quanh. Điều này cho thấy rằng, việc phát triển khả năng chú ý có chủ định cần được chú trọng hơn trong chương trình giáo dục mầm non. Các giáo viên cần có những phương pháp giáo dục phù hợp để giúp trẻ cải thiện khả năng này.

2.1. Kết quả khảo sát thực trạng

Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trẻ đạt được mức độ chú ý có chủ định tốt. Phần lớn trẻ chỉ có khả năng chú ý ở mức trung bình hoặc thấp. Điều này có thể do nhiều yếu tố, bao gồm môi trường học tập, phương pháp giáo dục và sự hỗ trợ từ gia đình. Các giáo viên cần nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc phát triển khả năng chú ý có chủ định và áp dụng các biện pháp giáo dục phù hợp để nâng cao khả năng này cho trẻ. Việc tổ chức các hoạt động học tập thú vị và hấp dẫn có thể giúp trẻ tăng cường khả năng chú ý và cải thiện kết quả học tập.

III. Biện pháp nâng cao khả năng chú ý có chủ định

Để nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, cần áp dụng một số biện pháp giáo dục hiệu quả. Các biện pháp này bao gồm việc tổ chức các hoạt động học tập đa dạng, sử dụng trò chơi học tập và tạo ra môi trường học tập tích cực. Việc khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động nhóm cũng giúp trẻ phát triển khả năng chú ý có chủ định. Ngoài ra, giáo viên cần thường xuyên theo dõi và đánh giá khả năng chú ý của trẻ để có những điều chỉnh kịp thời trong phương pháp giáo dục.

3.1. Các phương pháp giáo dục hiệu quả

Một số phương pháp giáo dục có thể áp dụng để nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ bao gồm: sử dụng các trò chơi học tập, tổ chức các hoạt động nhóm, và tạo ra các tình huống học tập thú vị. Các hoạt động này không chỉ giúp trẻ phát triển khả năng chú ý mà còn kích thích sự sáng tạo và khả năng giao tiếp của trẻ. Việc giáo viên thường xuyên tương tác và khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động cũng rất quan trọng để giúp trẻ phát triển khả năng chú ý có chủ định một cách tự nhiên và hiệu quả.

15/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÚ Ý VÀ CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi Từ những năm 1850, các nhà nghiên cứu đã có sự tranh cãi gay gắt về việc: Liệu con người có thể cùng một lúc chú ý vào hai việc khác nhau hay không (sự phân phối chú ý). Một số nhà nghiên cứu cho rằng con người có thể cùng một lúc chú ý vào hai việc, nhưng số khác lại không đồng tình với quan điểm này.

Vấn đề vẫn tiếp tục được tranh luận cho đến những năm 1900. Những tranh cãi này chỉ có thể được giải quyết thông qua việc tiến hành các thực nghiệm. Những năm 1860 - 1909, chú ý trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà Tâm lý học thời bấy giờ như H. Khi nghiên cứu về tri giác, nhà Tâm lý học Wundt lần đầu tiên đề cập đến vai trò của chú ý đối với tri giác.

Theo ông, chú ý và tri giác chú tâm (tổng giác) luôn đi đôi với nhau. Khác với tri giác có tính thụ động và tự động, tổng giác có tính chủ động và tự ý. Nói cách khác, tri giác chú tâm nằm trong sự kiểm soát của chủ thể [16, tr357]. Điều này cho thấy, Wundt đã bắt đầu có sự quan tâm đến vai trò của chú ý đối với các quá trình tâm lý khác (tri giác) và đã có những nghiên cứu cụ thể về nó.

Tuy nhiên, người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết về chú ý lại chính là nhà Tâm lý học người Mỹ William James. Quan điểm về chú ý của William James ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm của những nhà Tâm lý học khi đó. - Theo William James (1890), chú ý được hiểu là: “Sự khu biệt, sự tập trung của ý thức. Chú ý là trạng thái trái ngược với sự lộn xộn, hỗn độn và đãng trí.

Nó chính là điều kiện để giải quyết hiệu quả các công việc” [82]. William James cho rằng, nhờ có chú ý, con người có thể tri giác, nắm bắt, ghi nhớ và phân biệt tốt hơn. Ông phân tích chú ý theo các khía cạnh: + Nguồn gốc của chú ý là do các kích thích từ bên ngoài hoặc từ những biểu tượng, những ý nghĩ bên trong. Điều này có nghĩa là, chú ý được hình thành từ những kích thích của các sự vật bên ngoài lẫn những kích thích tâm lý từ bên trong.

12 + Chú ý mang tính trực tiếp hoặc mang tính phát sinh, nghĩa là nó có thể xuất hiện nhờ các kích thích (trực tiếp) gây hứng thú hoặc từ những kích thích có mối liên hệ với những điều gây hứng thú (phát sinh). + Chú ý có thể là một quá trình bị động, không có tính tự giác và không cần sự nỗ lực; hoặc là một quá trình chủ động, tự giác của con người. Ở đây, William James phân biệt giữa sự chú ý hình thành trực tiếp từ các kích thích bên ngoài (kiểm soát ngoại sinh) và sự chú ý triển khai từ những kích thích mang tính tự giác (có sự kiểm soát nội sinh). Đồng quan điểm với William James là quan điểm của Titichener và Pillsbury (1908).

Hai tác giả đã bổ sung và làm rõ hơn quan điểm của William James. Theo đó, các tác giả cho rằng: “Chú ý được xem như là một quá trình có ý thức, nhờ đó con người có thể nhận thức một hoặc một nhóm các ý tưởng một cách rõ ràng” [93]. Từ đây (đầu thế kỷ 20), đã nảy sinh những tranh cãi về việc bằng cách nào chú ý có thể giúp cho chúng ta nhận thức đối tượng rõ ràng? Giai đoạn này cũng được đánh dấu bằng những nghiên cứu thực nghiệm đối với vấn đề chú ý. Từ những năm 1920 - 1949, các nghiên cứu về chú ý ít phát triển do sự lớn mạnh của chủ nghĩa hành vi.

Tuy nhiên, vẫn có một số nghiên cứu về chú ý nổi bật trong giai đoạn này. Một trong số đó chính là nghiên cứu của A. Jerslid - một nhà Tâm lý học phát triển. Nghiên cứu của A.

Jerslid chỉ ra rằng khi chúng ta thực hiện các công việc đan xen nhau thì sẽ mất nhiều thời gian hơn chỉ làm một công việc nào đó được lặp đi lặp lại, bởi chúng ta phải mất thời gian cho quá trình chuyển tiếp từ công việc này sang công việc khác. Một nghiên cứu khác cũng khá quan trọng trong giai đoạn này là nghiên cứu của C. Telford - nhà Tâm lý học giáo dục. Nghiên cứu chứng minh rằng, khi thực hiện hai việc cùng lúc thì sẽ dễ dàng quan sát thấy sự trì hoãn hoạt động trong nhiệm vụ thứ hai [83].

Ngoài ra, còn có nghiên cứu của J. Nghiên cứu cho thấy những kích thích thông tin không tương thích với nhiệm vụ có thể tạo nên những ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện công việc (Hiệu ứng Stroop) [91]. Giai đoạn 1950 - 1974 được đánh dấu bởi sự quan tâm chủ yếu tới quá trình xử lý thông tin của con người. Nghiên cứu trong giai đoạn này là sự kết hợp giữa những ứng dụng kỹ thuật và lý thuyết và được xem như là cuộc cách mạng về “nhận thức” của các nhà Tâm lý học nhận thức.

Các nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào tìm hiểu cơ chế của chú ý, 13 nhất là các nghiên cứu về chú ý âm thanh. Tiêu biểu là các tác giả Mackworth, Colin Cherry, D. Treisman: - Năm 1950, Mackworth đã tiến hành một loạt các thực nghiệm về khả năng duy trì chú ý đối với một công việc nhàm chán mà vẫn giữ được sự tỉnh táo, nhanh nhẹn. Qua đó có thể thấy mức độ duy trì chú ý và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự chú ý của con người.

Nghiên cứu đi đến kết luận: có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự cảnh giác của một người, công việc càng kéo dài thì càng phạm sai lầm. Nếu chúng ta không chú ý thì chắc chắn phạm nhiều sai lầm hơn [49]. - Năm 1953, Cherry nghiên cứu về sự lựa chọn của chú ý trong việc phân tích âm thanh. Cherry mô tả khả năng lựa chọn chú ý đối với các kích thích âm thanh bằng hiệu ứng tiệc Cocktail (Cocktail Party Effect).

Theo Cherry, vào một thời điểm xác định, con người có thể lựa chọn để tập trung hoàn toàn vào một kích thích nào đó trong số các kích thích hỗn độn khác (như tiếng ồn, âm thanh của những cuộc nói chuyện khác nhau…), mặc dù vậy, con người vẫn chú ý đến những kích thích khác ở một mức độ nhất định [91]. Nghiên cứu của ông tạo tiền đề cho các nghiên cứu về chú ý âm thanh của các tác giả sau này. - Năm 1958, nghiên cứu của Broadbent đã đánh dấu sự phát triển của nghiên cứu chú ý ở giai đoạn này. Ông tiến hành các thực nghiệm liên quan đến việc chú ý chọn lọc âm thanh.

Broadbent cho rằng, không phải tất cả các thông tin đến từ các cơ quan cảm giác đều được chúng ta xử lý. Các thông tin sẽ được chuyển đến một “bộ lọc” của chủ thể và được lưu giữ trong trí nhớ tạm thời để được xử lý. Theo quan điểm này thì chỉ có những yếu tố cảm giác nào có những đặc tính chung (Ví dụ: đặc điểm của giọng nói) được lựa chọn để vào vùng lọc (bộ lọc). Việc hiểu ý nghĩa của thông tin chỉ được thực hiện sau khi “bộ lọc” lựa chọn thông tin tiếp nhận.

Vì thế, bất kỳ thông tin nào được gởi đến bên tai không được lựa chọn chú ý thì sẽ không thể được hiểu [96]. Lý thuyết của Broadbent được xem là khởi xướng cho lý thuyết chú ý hiện đại. Lý thuyết này sau đó đã được Treisman phát triển thêm. Đầu những năm 1970, nghiên cứu về chú ý chuyển từ nghiên cứu chú ý âm thanh sang chú ý hình ảnh.

Quan điểm xem chú ý như là một khả năng giới hạn, với các đại biểu như Kahneman (1973), Navon và Gopher (1979). Theo Kahneman, chú ý là khả năng đơn nhất có thể được phân phối cho những công việc khác nhau. Tuy vậy, việc thực hiện công việc có thể gặp trở ngại khi chúng ta tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng lúc vì chú ý là khả năng giới hạn. Khi nhiều yêu cầu đang được thực hiện, bộ xử lý quyết định nên dành tiềm năng nào 14 cho một công việc cụ thể và trạng thái sinh lý của con người sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực của chúng ta [49].

Cuối thập niên 1970, Navon và Gopher (1979) cho rằng tốt hơn nên xem xét chú ý như là một khả năng đa dạng, bởi theo hai nhà Tâm lý học này thì việc thực hiện hai nhiệm vụ cùng một lúc sẽ dễ dàng hơn khi hai nhiệm vụ ấy sử dụng kích thích và phương thức phản hồi khác nhau và ngược lại sẽ khó khăn hơn khi chúng sử dụng cùng một phương thức phản hồi [91]. Gelade phát triển lý thuyết tích hợp đặc tính. Theo lý thuyết này, chú ý giữ vai trò kết nối các đặc tính khác nhau thành một thể thống nhất được trải nghiệm một cách có ý thức [97]. Lý thuyết của Treisman đã khắc phục một số điểm hạn chế của Broadbent và có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu chú ý, dù vẫn còn những hạn chế nhất định.

Các lý thuyết và quan điểm về chú ý từ những năm 1920 đến cuối thế kỷ 20 được nghiên cứu nhiều bởi Tâm lý học nhận thức. Gần đây, các nghiên cứu chú ý được tập trung nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học thần kinh, gắn liền với cơ chế của não bộ. Các dữ liệu Tâm lý học thần kinh và hành vi giúp cho sự phát triển quan trọng trong nghiên cứu về chú ý ở nửa đầu thế kỷ 21 [102]. Cũng như các nhà Tâm lý học phương Tây, vấn đề về chú ý nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học Xô Viết.

Nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Xô Viết đã có những đóng góp lớn cho sự hiểu biết về chú ý, trong đó có thể kể đến các nghiên cứu của N. Tựu chung, nghiên cứu của các tác giả Xô Viết bàn về ba vấn đề lớn: (1) Tìm hiểu vai trò của chú ý trong hoạt động của con người, (2) Tìm hiểu cơ chế sinh lý của chú ý, (3) Bàn về các điều kiện và qui luật giáo dục chú ý. Đabrưnhin khi nghiên cứu về bản chất của chú ý đã đề cập đến giá trị của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khả Năng Chú Ý Có Chủ Định Của Trẻ Mẫu Giáo 5-6 Tuổi Ở TP.HCM" tập trung nghiên cứu về khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết này sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về sự phát triển nhận thức của trẻ trong giai đoạn này, giúp bạn hiểu rõ hơn về khả năng tập trung, sự chú ý và các yếu tố ảnh hưởng đến chúng. Thông qua việc phân tích các yếu tố liên quan, bài viết cung cấp những kiến thức hữu ích cho giáo viên, phụ huynh và những người quan tâm đến sự phát triển của trẻ mẫu giáo.

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố liên quan đến sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như: