CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÚ Ý VÀ CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề chú ý và chú ý của trẻ MG 5-6 tuổi Từ những năm 1850, các nhà nghiên cứu đã có sự tranh cãi gay gắt về việc: Liệu con người có thể cùng một lúc chú ý vào hai việc khác nhau hay không (sự phân phối chú ý). Một số nhà nghiên cứu cho rằng con người có thể cùng một lúc chú ý vào hai việc, nhưng số khác lại không đồng tình với quan điểm này.
Vấn đề vẫn tiếp tục được tranh luận cho đến những năm 1900. Những tranh cãi này chỉ có thể được giải quyết thông qua việc tiến hành các thực nghiệm. Những năm 1860 - 1909, chú ý trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà Tâm lý học thời bấy giờ như H. Khi nghiên cứu về tri giác, nhà Tâm lý học Wundt lần đầu tiên đề cập đến vai trò của chú ý đối với tri giác.
Theo ông, chú ý và tri giác chú tâm (tổng giác) luôn đi đôi với nhau. Khác với tri giác có tính thụ động và tự động, tổng giác có tính chủ động và tự ý. Nói cách khác, tri giác chú tâm nằm trong sự kiểm soát của chủ thể [16, tr357]. Điều này cho thấy, Wundt đã bắt đầu có sự quan tâm đến vai trò của chú ý đối với các quá trình tâm lý khác (tri giác) và đã có những nghiên cứu cụ thể về nó.
Tuy nhiên, người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết về chú ý lại chính là nhà Tâm lý học người Mỹ William James. Quan điểm về chú ý của William James ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm của những nhà Tâm lý học khi đó. - Theo William James (1890), chú ý được hiểu là: “Sự khu biệt, sự tập trung của ý thức. Chú ý là trạng thái trái ngược với sự lộn xộn, hỗn độn và đãng trí.
Nó chính là điều kiện để giải quyết hiệu quả các công việc” [82]. William James cho rằng, nhờ có chú ý, con người có thể tri giác, nắm bắt, ghi nhớ và phân biệt tốt hơn. Ông phân tích chú ý theo các khía cạnh: + Nguồn gốc của chú ý là do các kích thích từ bên ngoài hoặc từ những biểu tượng, những ý nghĩ bên trong. Điều này có nghĩa là, chú ý được hình thành từ những kích thích của các sự vật bên ngoài lẫn những kích thích tâm lý từ bên trong.
12 + Chú ý mang tính trực tiếp hoặc mang tính phát sinh, nghĩa là nó có thể xuất hiện nhờ các kích thích (trực tiếp) gây hứng thú hoặc từ những kích thích có mối liên hệ với những điều gây hứng thú (phát sinh). + Chú ý có thể là một quá trình bị động, không có tính tự giác và không cần sự nỗ lực; hoặc là một quá trình chủ động, tự giác của con người. Ở đây, William James phân biệt giữa sự chú ý hình thành trực tiếp từ các kích thích bên ngoài (kiểm soát ngoại sinh) và sự chú ý triển khai từ những kích thích mang tính tự giác (có sự kiểm soát nội sinh). Đồng quan điểm với William James là quan điểm của Titichener và Pillsbury (1908).
Hai tác giả đã bổ sung và làm rõ hơn quan điểm của William James. Theo đó, các tác giả cho rằng: “Chú ý được xem như là một quá trình có ý thức, nhờ đó con người có thể nhận thức một hoặc một nhóm các ý tưởng một cách rõ ràng” [93]. Từ đây (đầu thế kỷ 20), đã nảy sinh những tranh cãi về việc bằng cách nào chú ý có thể giúp cho chúng ta nhận thức đối tượng rõ ràng? Giai đoạn này cũng được đánh dấu bằng những nghiên cứu thực nghiệm đối với vấn đề chú ý. Từ những năm 1920 - 1949, các nghiên cứu về chú ý ít phát triển do sự lớn mạnh của chủ nghĩa hành vi.
Tuy nhiên, vẫn có một số nghiên cứu về chú ý nổi bật trong giai đoạn này. Một trong số đó chính là nghiên cứu của A. Jerslid - một nhà Tâm lý học phát triển. Nghiên cứu của A.
Jerslid chỉ ra rằng khi chúng ta thực hiện các công việc đan xen nhau thì sẽ mất nhiều thời gian hơn chỉ làm một công việc nào đó được lặp đi lặp lại, bởi chúng ta phải mất thời gian cho quá trình chuyển tiếp từ công việc này sang công việc khác. Một nghiên cứu khác cũng khá quan trọng trong giai đoạn này là nghiên cứu của C. Telford - nhà Tâm lý học giáo dục. Nghiên cứu chứng minh rằng, khi thực hiện hai việc cùng lúc thì sẽ dễ dàng quan sát thấy sự trì hoãn hoạt động trong nhiệm vụ thứ hai [83].
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của J. Nghiên cứu cho thấy những kích thích thông tin không tương thích với nhiệm vụ có thể tạo nên những ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện công việc (Hiệu ứng Stroop) [91]. Giai đoạn 1950 - 1974 được đánh dấu bởi sự quan tâm chủ yếu tới quá trình xử lý thông tin của con người. Nghiên cứu trong giai đoạn này là sự kết hợp giữa những ứng dụng kỹ thuật và lý thuyết và được xem như là cuộc cách mạng về “nhận thức” của các nhà Tâm lý học nhận thức.
Các nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào tìm hiểu cơ chế của chú ý, 13 nhất là các nghiên cứu về chú ý âm thanh. Tiêu biểu là các tác giả Mackworth, Colin Cherry, D. Treisman: - Năm 1950, Mackworth đã tiến hành một loạt các thực nghiệm về khả năng duy trì chú ý đối với một công việc nhàm chán mà vẫn giữ được sự tỉnh táo, nhanh nhẹn. Qua đó có thể thấy mức độ duy trì chú ý và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự chú ý của con người.
Nghiên cứu đi đến kết luận: có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự cảnh giác của một người, công việc càng kéo dài thì càng phạm sai lầm. Nếu chúng ta không chú ý thì chắc chắn phạm nhiều sai lầm hơn [49]. - Năm 1953, Cherry nghiên cứu về sự lựa chọn của chú ý trong việc phân tích âm thanh. Cherry mô tả khả năng lựa chọn chú ý đối với các kích thích âm thanh bằng hiệu ứng tiệc Cocktail (Cocktail Party Effect).
Theo Cherry, vào một thời điểm xác định, con người có thể lựa chọn để tập trung hoàn toàn vào một kích thích nào đó trong số các kích thích hỗn độn khác (như tiếng ồn, âm thanh của những cuộc nói chuyện khác nhau…), mặc dù vậy, con người vẫn chú ý đến những kích thích khác ở một mức độ nhất định [91]. Nghiên cứu của ông tạo tiền đề cho các nghiên cứu về chú ý âm thanh của các tác giả sau này. - Năm 1958, nghiên cứu của Broadbent đã đánh dấu sự phát triển của nghiên cứu chú ý ở giai đoạn này. Ông tiến hành các thực nghiệm liên quan đến việc chú ý chọn lọc âm thanh.
Broadbent cho rằng, không phải tất cả các thông tin đến từ các cơ quan cảm giác đều được chúng ta xử lý. Các thông tin sẽ được chuyển đến một “bộ lọc” của chủ thể và được lưu giữ trong trí nhớ tạm thời để được xử lý. Theo quan điểm này thì chỉ có những yếu tố cảm giác nào có những đặc tính chung (Ví dụ: đặc điểm của giọng nói) được lựa chọn để vào vùng lọc (bộ lọc). Việc hiểu ý nghĩa của thông tin chỉ được thực hiện sau khi “bộ lọc” lựa chọn thông tin tiếp nhận.
Vì thế, bất kỳ thông tin nào được gởi đến bên tai không được lựa chọn chú ý thì sẽ không thể được hiểu [96]. Lý thuyết của Broadbent được xem là khởi xướng cho lý thuyết chú ý hiện đại. Lý thuyết này sau đó đã được Treisman phát triển thêm. Đầu những năm 1970, nghiên cứu về chú ý chuyển từ nghiên cứu chú ý âm thanh sang chú ý hình ảnh.
Quan điểm xem chú ý như là một khả năng giới hạn, với các đại biểu như Kahneman (1973), Navon và Gopher (1979). Theo Kahneman, chú ý là khả năng đơn nhất có thể được phân phối cho những công việc khác nhau. Tuy vậy, việc thực hiện công việc có thể gặp trở ngại khi chúng ta tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng lúc vì chú ý là khả năng giới hạn. Khi nhiều yêu cầu đang được thực hiện, bộ xử lý quyết định nên dành tiềm năng nào 14 cho một công việc cụ thể và trạng thái sinh lý của con người sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực của chúng ta [49].
Cuối thập niên 1970, Navon và Gopher (1979) cho rằng tốt hơn nên xem xét chú ý như là một khả năng đa dạng, bởi theo hai nhà Tâm lý học này thì việc thực hiện hai nhiệm vụ cùng một lúc sẽ dễ dàng hơn khi hai nhiệm vụ ấy sử dụng kích thích và phương thức phản hồi khác nhau và ngược lại sẽ khó khăn hơn khi chúng sử dụng cùng một phương thức phản hồi [91]. Gelade phát triển lý thuyết tích hợp đặc tính. Theo lý thuyết này, chú ý giữ vai trò kết nối các đặc tính khác nhau thành một thể thống nhất được trải nghiệm một cách có ý thức [97]. Lý thuyết của Treisman đã khắc phục một số điểm hạn chế của Broadbent và có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu chú ý, dù vẫn còn những hạn chế nhất định.
Các lý thuyết và quan điểm về chú ý từ những năm 1920 đến cuối thế kỷ 20 được nghiên cứu nhiều bởi Tâm lý học nhận thức. Gần đây, các nghiên cứu chú ý được tập trung nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học thần kinh, gắn liền với cơ chế của não bộ. Các dữ liệu Tâm lý học thần kinh và hành vi giúp cho sự phát triển quan trọng trong nghiên cứu về chú ý ở nửa đầu thế kỷ 21 [102]. Cũng như các nhà Tâm lý học phương Tây, vấn đề về chú ý nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà Tâm lý học Xô Viết.
Nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Xô Viết đã có những đóng góp lớn cho sự hiểu biết về chú ý, trong đó có thể kể đến các nghiên cứu của N. Tựu chung, nghiên cứu của các tác giả Xô Viết bàn về ba vấn đề lớn: (1) Tìm hiểu vai trò của chú ý trong hoạt động của con người, (2) Tìm hiểu cơ chế sinh lý của chú ý, (3) Bàn về các điều kiện và qui luật giáo dục chú ý. Đabrưnhin khi nghiên cứu về bản chất của chú ý đã đề cập đến giá trị của nó.